LUẬN CÂU XÁ 

Đề cương bài giảng

Bài 1 (8 tiết)

GIỚI THIỆU

HVPG VN tại Hà Nội và

HVPG VN tại TP.HCM

Giảng viên: TT.TS. Thích Giác Hiệp

  1. LỊCH SỬ

1.1. Khái quát

1.2. Thuật ngữ

1.3. Tác giả

  1. VĂN CHƯƠNG A-TỲ-ĐÀM

2.1. Luận thư Thượng-tọa bộ

2.2. Luận thư Nhất-thiết-hữu bộ

2.3. Luận Câu-xá

  1. TRIẾT HỌC

3.1. Phân chia pháp

3.2. Thuyết Nhân quả

3.3. Thuyết Tam thế thật hữu

3.4. Thuyết Cực vi

3.5. Tư tưởng Giải thoát

3.6. Phá chấp ngã

  1. ĐẠI Ý CÁC PHẨM
  2. KẾT LUẬN
  1. LỊCH SỬ:   

1.1. Khái quát:

Bộ luận Câu-xá chứa đựng giáo lý của nhiều trường phái Phật giáo nên có vai trò quan trọng trong sự phát triển văn chương Phật giáo nói chung và văn chương Nhất-thiết-hữu bộ nói riêng, ở Ấn độ và Trung quốc, Nhật Bản….Trường hợp ở Trung Quốc, tông Câu-xá dựa vào bộ luận Câu-xá để làm nền tảng lập tông. Luận Câu-xá là một trong những bộ luận thuộc hệ tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ. Đây là một trước tác của ngài Thế Thân. Tác phẩm này được ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào giai đoạn năm 563-567 TL, và ngài Huyền Trang dịch lại vào khoảng giai đoạn năm 651-654TL.[1] Tác phẩm đề cập nhiều lãnh vực trong Phật giáo, như: Bản thể học, Tâm lý học, Đạo đức học, Vũ trụ quan…

Ở Trung quốc, sau khi bản dịch luận Câu-xá của ngài Chân Đế được hoàn thành tông Câu-xá chính thức được thành lập. Do vậy ngài Chân Đế được xem là Sơ tổ của tông này. Câu-xá tông được gọi là trường phái thật hữu, vì nó chủ trương tính chất của các pháp thật hữu trong mọi thời, quá khứ, hiện tại và vị lai. [2]

1.2. Giải thích thuật ngữ

Câu-xá là phiên âm từ tiếng Sanskrit: kośa, tên tắt bộ luận Abhidharma-kośa của ngài Thế Thân (Vasubandhu 316–396 TL.). Tên đầy đủ là Abhidharma-kośa, có nghĩa: chỗ chứa pháp tối thắng, thông minh luận. Abhidharma được dịch: Đại pháp, Thắng pháp, Vô tỷ pháp, Thích pháp, Đối pháp. Pháp có khả năng vi diệu diễn bày 4 chân lý và đoạn trừ các phiền não. Abhidharma có hai nghĩa thông thường:

1) Đối pháp: trí tuệ thanh tịnh, các loại trí tuệ và luận giúp đạt được trí thanh tịnh.

2) Thắng pháp: pháp thù thắng vi diệu.

Đại Tỳ-bà-sa giải thích có 24 nghĩa.

Luận Câu-xá viết theo quan điểm của trường phái Kinh lượng bộ. Thế nhưng Câu-xá luận không hoàn toàn chỉ trích Nhất-thiết-hữu bộ mà còn hệ thống hóa tư tưởng bộ phái này. Khi hệ thống hóa tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ thỉnh thoảng ngài Thế Thân đưa quan điểm của mình vào, phê phán và không đồng tình một số điểm triết học của Nhất-thiết-hữu bộ. Luận Câu-xá là một tác phẩm chẳng những bao hàm giáo lý quan trọng của luận tạng mà còn chứa đựng nhiều nội dung khác trong Thánh điển Phật giáo.[3]

1.3. Tác giả

Ngài Thế Thân (世親Vasubandhu 316-396)[4] là một trong những vị tổ sư lỗi lạc trong sự phát triển Phật giáo ở Ấn Độ . Ngài sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, xuất gia theo Nhất-thiết-hữu bộ. Có giả thuyết  cho rằng có hai ngài Thế Thân, một theo tư tưởng Hữu bộ, một theo Đại thừa.[5] Thế nhưng thuyết này không được nhiều người ủng hộ. Ngài Thế Thân xuất gia theo Nhất-thiết-hữu bộ, sau chuyển sang quan điểm Kinh Lượng bộ. Ngài được anh của mình là ngài Vô Trước (無著 asaṅga, khoảng 315-390) chuyển hóa sang Đại thừa.[6]

  1. Văn chương A-tỳ-đàm

Từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch đến thế kỷ thứ II Tây lịch văn chương A-tỳ-đàm xuất hiện, phát triển. Những thế kỷ tiếp theo rất nhiều bản chú thích, toát yếu của những luận sư lỗi lạc ra đời. Luận hình thành triết học và nhiều quan điểm khác nhau của các bộ phái Phật giáo.[7]

Theo truyền thống Pāli,[8] A-tỳ-đàm do chính Đức Phật thuyết ở cõi Tam thập tam thiên (Tāvattiṃsa)[9] cho chư thiên và mẹ của Ngài trong ba tháng mùa An cư. Đức Phật cũng giảng cho ngài Xá Lợi Phất, ngài Xá Lợi Phất truyền cho đệ tử. Sự truyền thừa tiếp nối cho đến khi luận được kiết tập.[10] Phần lớn các trường phái A-tỳ-đàm có thể bắt đầu phát triển khoảng năm 240 TTL, sau Đại hội kiết tập Thánh điển lần thứ ba (cuộc kiết tập diễn ra khoảng năm 247,[11] có nhiều sử liệu đề cập thời gian khác nhau) tại Pāṭaliputra do vua A-dục ủng hộ.[12] Thời điểm đánh dấu sự chia rẽ giữa Mahāsānghika và Sthavira.

Kinh Lượng bộ không chấp nhận luận do Phật thuyết. Tổ sư của bộ phái là ngài Thất Lị La Đa, Sthavira Śrīlāta, khẳng định:

Những lời dạy cao quý được Đức Phật giải thích thì gọi là kinh liễu nghĩa, còn các kinh khác gọi là bất liễu nghĩa.

(諸有聖教。佛自標釋。名了義經。所餘契經。名不了義).[13]

Ngoài Kinh Lượng bộ ra, đặc biệt một số trường phái thuộc Đại chúng bộ, không đồng quan điểm cho rằng luận do Phật thuyết, họ chủ trương:

Tất cả các kinh được Đức Phật thuyết là liễu nghĩa. (佛所說經皆是了義).[14]

Theo lịch sử hình thành Tam tạng Thánh điển Phật giáo thì Luận tạng được hình thành sau cùng, Luật, Kinh, Luận. Các trường phái thuộc Tiểu thừa đều có Tam tạng thánh điển riêng nhưng rất tiếc hầu hết đều không còn. Sự phát triển của luận chính là do nhu cầu hoằng dương chính pháp. Các vị đệ tử của Đức Phật muốn lời dạy cao siêu của Ngài được truyền bá một cách có hệ thống, đầy đủ và đúng đắn. Do vậy các ngài hình thành luận.[15]

Luận là loại văn chương cổ điển đề cập đến nhiều chủ đề, như: triết học, tâm lý học… Luận là một hình thức văn chương chú thích, giải thích. Nó có một quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên, chỉ có một số tác phẩm của Thượng-tọa bộ, Nhất-thiết-hữu bộ và một số trường phái khác còn tồn tại đến ngày nay. Quá trình phát triển của Luận tạng trải qua một thời gian dài, được học giả Nhật Bản, Kimura Taiken (木村泰賢1881-1930), chia ra làm 4 thời kỳ.[16] Theo Kogen Mizuno Luận thư phát triển trải qua 3 giai đoạn:[17]

  1. Giai đoạn từ thời Đức Phật đến thời kỳ Nguyên thủy Phật giáo.
  2. Giai đoạn luận thư phát triển độc lập, Luận tách khỏi Kinh và Luật, hình thành các luận thư căn bản, bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ III trước Tây lịch đến đầu thế kỷ thứ I Tây lịch.
  3. Giai đoạn ra đời các bản chú sớ về luận, bắt đầu từ đầu thế kỷ thứ I Tây lịch đến thế kỷ thứ 5. Và cho đến ngày nay, sự hình thành các bản chú thích về luận dĩ nhiên vẫn còn phát triển.

2.1. Luận thư Thượng-tọa bộ

Thượng-tọa bộ là một trong những trường phái còn bảo lưu Thánh điển của bộ phái tương đối đầy đủ. Các tác phẩm của Thượng-tọa bộ được biên soạn trong khoảng thời gian từ năm 250 TTL đến năm 50 TTL, thời gian mà có nhiều bộ phái Phật giáo được hình thành. Bảy tác phẩm gồm:[18] 1) Pháp Tập luận (dhammasaṇgaṇi法集論), 2) Phân Biệt luận (vibhaṇga分別論), 3) Giới luận (dhātukathā界論), 4) Nhân Thi Thiết luận (puggalapaññati人施設論), 5) Luận sự (kathāvatthu論事), 6) Song luận (yamaka雙論), 6) Phát Thú luận (paṭṭhāna發趣論),.

2.2. Luận thư Nhất-thiết-hữu bộ: có 7 tác phẩm

Nhất-thiết-hữu bộ có đóng góp to lớn trong sự phát triển A-tỳ-đàm, ngay cả Đại thừa cũng ảnh hưởng tư tưởng bộ phái này.[19] Luận thư của Nhất-thiết-hữu bộ gồm: 1) A-tỳ-đàm bát-kiền-độ luận (Jñānaprasthāna-śastra 阿毘曇八犍度論), 2) A-tỳ-đạt-ma tập dị môn túc luận (saṇgītiparyāya阿毘達磨集異門足論 ), 3) A-tỳ-đạt-ma pháp uẩn túc luận (dharmaskandha-pāda-śastra 阿毘達磨 法蘊足論), 4) A-tỳ-đạt-ma thí thiết luận (prajñaptipāda-śastra施設論), 5) A-tỳ-đạt-ma thức thân túc luận (jñānakāya-pāda-śastra 阿毘達磨識身足論), 6) A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận (dhātukāyapāda-śastra阿毘達磨界足論), 7) A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận (prakaraṇa-pāda-śastra阿毘達磨品類足論). Các bộ luận này được viết bằng tiếng Sanskrit. Phát Trí luận gọi là Thân luận, chứa đựng nghĩa lý rộng. 6 bộ luận kia gọi là Túc luận, chỗ dựa cho luận Phát Trí.

2.3. Luận Câu-xá

Sau khi tham học giáo nghĩa  của Nhất-thiết-hữu bộ ở Kaśmir,[20] ngài Thế Thân trở về Gandhāra và giảng Đại-tì-bà-sa, sau mỗi lần giảng ngài đúc kết thành một kệ tụng, trải qua thời gian có tất cả 600 bài tụng căn bản;[21] sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng Nhất-thiết-hữu bộ ở Kaśmir, Ngài viết thêm 8.000 kệ giải thích, kết hợp tất cả lại hình thành luận Câu-xá. Mục đích của luận nhằm:  1) Loại bỏ tư tưởng bè phái, 2) Loại bỏ tư tưởng cố chấp, 3) Loại bỏ tư tưởng khen mình chê người.

  1. Triết học

3.1. Phân chia pháp

Một số trường phái Phật giáo có đưa ra sự giải thích về vũ trụ, con người. Nhất-thiết-hữu bộ là một trong những trường phái này, đưa ra quan điểm về vũ trụ, nhân sinh. Theo Nhất-thiết-hữu bộ tất cả các pháp trong vũ trụ chia ra làm 2 loại chính: Hữu vi (saṃskṛta) và Vô vi (asaṃskṛta). Pháp Hữu vi có 72 pháp bao gồm trong 4 nhóm (11 sắc pháp, 1 tâm pháp, 46 tâm sở, 14 tâm bất tương ưng). Vô vi có 3 pháp (hư không, trạch diệt, phi trạch diệt). Tổng cộng Pháp Hữu vi và Vô vi là 75 pháp.

3.2. Thuyết Nhân quả

Nhất-thiết-hữu bộ đề cập đến học thuyết nhân quả là để biện luận tính chất tồn tại trong ba đời của các pháp, các pháp khởi do nhân, duyên. Luận Câu-xá nêu:

Các thật thế pháp tồn tại phải có nhân, nếu không phải vậy chúng là vô vi.

(又有實體必應有因。或應是無為).[22]

Các yếu tố chính, phụ hỗ tương hình thành các hiện tượng, kết quả. Kết quả được hình thành là do nhân chính kết hợp với các duyên, các pháp không phải tự nhiên mà có.

  • SÁU NHÂN

Đây là những yếu tố chính giúp hình thành kết quả. Theo Nhất-thiết-hữu bộ có 6 nhân: 1) Năng tác nhân, 2) Câu hữu nhân, 3) Đồng loại nhân, 4) Tương ưng nhân, 5) Biến hành nhân, 6) Dị thục nhân.

  • BỐN DUYÊN:

Vạn hữu hiện khởi có nhiều mối quan hệ. Duyên là yếu tố phụ giúp hình thành quả. Có 4 duyên: 1) Nhân duyên, 2) Thứ đệ duyên, 3) Tăng thượng duyên, 4) Sở duyên duyên.

  • NĂM QUẢ

Kết quả hình thành qua quá trình hỗ tương giữa nhân và duyên. Quả có 2 loại hữu vi và vô vi, tất cả có 5: quả hữu vi: 1) Tăng thượng quả, 2) Sĩ dụng quả, 3) Đẳng lưu quả, 4) Dị thục quả, và quả vô vi: 5) Ly hệ quả

3.3. Thuyết Tam thế thật hữu

Nhất-thiết-hữu bộ chủ trương tính chất của tất cả các pháp hữu vi và vô vi đều tồn tại vĩnh viễn trong 3 đời, quá khứ, hiện tại và vị lai không có gián đoạn. Lý thuyết này là một trong những quan điểm triết học gây tranh luận nhất của trường phái Nhất-thiết-hữu bộ.

3.4. Thuyết Cực vi paramāṇnu.

       Học thuyết cực vi không tìm thấy trong kinh, được giới thiệu vào Phật giáo, có thể là của Thắng luận  (Vaiśeṣika).[23] Cực vi là đơn vị cực nhỏ, không thể cắt xén, phá hoại, xỏ xuyên, lấy bỏ…phân chia..cũng không thể dùng mắt thấy, dùng tai nghe[24]… Cực vi tiêu biểu cho một quan điểm số lượng của sự hiện hữu. Một pháp được hình thành do vô số phần vi tế này.

3.5. Tư tưởng Giải thoát

Trạch diệt (pratysaṃkhyā nirodha)=Niết-bàn là xa lìa các trói buộcàgiải thoát.[25] Tu tập đạt được sự giải thoát là mục đích tối hậu của hành giả. Niết-bàn là trạng thái giải thoát, thoát khỏi các hệ lụy. Niết bàn là tự tánh thanh tịnh, bản thể chân thật, một trạng thái tâm lý an lạc, trạng thái thoát khỏi sự trói buộc của các lậu hoặc. Niết-bàn có thể được chia ra làm 2 loại: 1) Hữu dư y Niết-bàn và 2) Vô dư y Niết-bàn. 1) Hữu dư y Niết-bàn: loại Niết-bàn mà hành giả có thể chứng đạt ngay trong hiện tại khi đã đoạn trừ các lậu hoặc, phiền não được đoạn trừ và nhục thể vẫn còn, 2) Vô dư y Niết-bàn: lậu hoặc, phiền não đã được đoạn trừ và sắc thân của hành giả được xả bỏ.

3.6. Phá chấp ngã

Phật giáo chủ trương phá trừ những chấp trước có một thật ngã thường hằng mà các trường phái triết học, tôn giáo trước thời Phật đã chủ trương. Ngài Thế Thân phá trừ chủ trương của Độc-tử bộ, một bộ phái Phật giáo, chủ trương phi tức phi ly uẩn ngã, ngã không khác uẩn cũng không phải lìa uẩn mà có. Và ngài Thế Thân cũng bàn về quan điểm của Số luận và Thắng luận.

  1. Đại ý các phẩm: 9 phẩm
  2. Kết luận

Luận thư của Phật giáo nói chung và Câu-xá nói riêng góp phần lớn trong việc tồi tà, hiển chánh. Luận Câu-xá được viết dựa trên quan điểm của Kinh-lượng bộ, không hoàn toàn bác bỏ chủ trương của Nhất-thiết-hữu bộ. Ngài Thế Thân dựa vào tư tưởng Kinh-lượng bộ đôi lúc có chỉ trích hệ thống tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ, không đồng tình với một số điểm triết học của trường phái này. Luận Câu-xá có tính hệ thống hóa, có tính thẩm quyền và hoàn thiện, hệ thống hóa tư tưởng Nhất-thiết-hữu Bộ.[26] Mục đích của luận Câu-xá nhằm giúp hành giả đoạn trừ phiền não cố chấp, tư tưởng bộ phái, khen mình chê người, luận giúp phát sinh trí tuệ và hoằng truyền, bảo tồn chính pháp.

B I B L I O G R A P H Y

A. Primary sources

  1. Abhidharmakośabhāṣyam of Vasubandhu. Tr., Leo M.Pruden. (California: Asian Humanities Press, 1988-1990)
  2. 阿毘達磨大毘婆沙論 T 27, no 1545, 【五百大阿羅漢等造 唐 玄奘譯】
  3. 阿毘達磨俱舍論 T 29, no 1558,【尊者世親造 唐 玄奘譯】

B. Secondary sources

  1. 阿毘達磨順正理論 T 29, no.1562,【尊者眾賢造 唐 玄奘譯】
  2. 阿毘達磨藏顯宗論 T 29, no.1563,【尊者眾賢造 唐 玄奘譯】
  3. 婆藪槃豆法師傳 T 50, no. 2049,                      【陳 真諦譯】
  4. 大唐西域記    T 51, no.2087,                         【唐 玄奘譯】
  5. Anacker, Stefan. Seven Works of Vasubandhu: The Buddhist Psychological Doctor. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2005.
  6. Anālayo, Bhikkhu. The Dawn of Abhidharma. Hamburg Buddhist Studies 2, Hamburg: Hamburg University Press, 2014.
  7. Bapat, Lata. Abhidharmakośa A Study with a new Perspective. Varanasi: Bharatiya Vidya Prakashan, 1994.
  8. Chaudhury, Sukomal. Analytical Study of the Abhidharmakosa. Calcutta: Firma KLM Private Limited, 1983.
  9. Dessein, Bart, and Weijen Teng, eds. “Text, History, and Philosophy: Abhidharma Across Scholastic Traditions.” Brill’s Indological Library. Leiden: Brill, 2016.
  10. Dhammajoti, KL. Sarvāstivāda Hong Kong: The University of Hong Kong, 2007.
  11. 演培法師.俱舍論頌講記.臺北市:天華出版事業, 中華民國六十七年.
  12. Duerlinger, James. Indian Buddhist Theories of Persons.New York: Routledge, 2003.
  13. Dương Hồng. (dịch) Tứ Thư. Hà Nội: NXB Quân Đội Nhân Dân, 2003.
  14. James Hastings, ed. Encyclopaedia of Religion and Ethics. no. XII, 1921, 596-597.
  15. Garg, Gaṅgā Rām. Encyclopaedia of The Hindu World. Vol.III, New Delhi: Concept Publishing Company, 1992.
  16. Geiger, Welhelm, trans. The Mahāvaṃsa or The Great Chronicle of Ceylon. London: Oxford University Press, 1912.
  17. Groner, Paul, trans. A History of Indian Buddhism: From Skyamuni to Early Mahayana. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998.
  18. Harvey, Peter. An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations, Values, and Issues. Cambridge, UK: Cambridge University Press, 2000.
  19. Jaini, Padmanabh S., ed. Collected Papers on Buddhist Studies. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2001.
  20. Kragh, Ulrich T. “The Extant Abhidharma-Literature.” The Indian International Journal of Buddhist Studies, (Varanasi), no. 3 (2002). 123-167.
  21. Malalasekera,P. ed. Buddhist Encyclopaedia. (Vol. I, Vol. VII), Ceylon: The Government Press Ceylon, 1961.
  22. Mitra, Rajendralala. The Sanskrit Buddhist Literature of Nepal. New Delhi: Cosmo Publications, 1981.
  23. Kimura Taiken. 阿毘達磨論書的研究. 釋依觀, 台灣: 台灣商務, 2018.
  24. Nariman, J.K. Literary History of Sanskrit Buddhism. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
  25. Pine, Red, trans. The Heart Sutra The Womb of the Buddha. Washington, D.C.: Shoemaker & Hoard, 2004.
  26. Prebish, Charles S., ed. Buddhism: A Modern Perspective. Delhi: Sri Satguru Publications, 1995.
  27. Priestley, Leonard C.D.C. Pudgalavāda Buddhism The Reality of the Indeterminate Self. Canada: University of Toronto, 1999.
  28. Sasaki, Genjun H. Linguistic Approach to Buddhist Thought. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
  29. Sogen, Yamakami. Systems of Buddhistic Thought. New Delhi: Cosmo Publications, 2002.
  30. Sujato, Bhikkhu. Sects & Sectarianism: The Origins of Buddhist Schools. Australia: Santipada, 2012.
  31. Takakusu, Junjiro. The Essentials of Buddhist Philosophy. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998.
  32. Takakusu,J., trans. “The Life of Vasubandhu by Paramartha”. T’oung Pao : 通報, Serie II, Vol.V, Leiden: E.J. Brill, 1904, pp.269-296.
  33. Tin, Pe Maung, trans. The Expositor (Atthasalini): Buddhaghosa’s Commentary on the Dhammasangani, The First Book of the Abhidhamma-Pitaka. Vol. I, London: Oxford University Press, 1920.
  34. 張曼濤, (ed.).俱舍論研究.臺北市:大乘文化出版社, 中華民國六十七年.
  35. Warder, A.K. Indian Buddhism. Delhi: Motilal Barnarsidass, 3rd ed., 2000.
  36. Winternitz, Maurice. A History of Indian Literature. (Vol. II), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1996.

[1] S. Chaudhury, Analytical Study of the Abhidharmakosa (Calcutta: Firma KLM Private Limited, 1983), 7.

[2] K. K. S. Ch’en, Buddhism in China: A Historical Survey (New Jersey: Princeton University Press, 1964), 301.

[3] L. Bapat, Abhidharmakośa A Study with a new Perspective (Varanasi: Bharatiya Vidya Prakashan, 1994), 38.

[4] S. Anacker, Seven Works of Vasubandhu: The Buddhist Psychological Doctor (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2005), 10.

[5] P. S. Jaini, ed., Collected Papers on Buddhist Studies (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2001), 183-190.

[6] H.Nakamura, Indian Buddhism: a Survey with Bibliographical Notes (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1999), 109.

[7] U.T Kragh, “The Extant Abhidharma-Literature,” The Indian International Journal of Buddhist Studies, (Varanasi), no. 3 (2002): 123.

[8] R.Pine, trans, The Heart Sutra The Womb of the Buddha (Washington, D.C.: Shoemaker & Hoard, 2004), 11-12.

[9] K. Mizuno, “Abhidharma Literature” in G.P. Malalasekera (ed.), Buddhist Encyclopaedia, Vol. I (Ceylon: The Government Press Ceylon, 1961), 67.

[10] P. M. Tin, trans, The Expositor (Atthasalini): Buddhaghosa’s Commentary on the Dhammasangani, The First Book of the Abhidhamma-Pitaka, Vol. I (London: Oxford University Press, 1920), 1-2.

[11] W. Geiger., trans., The Mahāvaṃsa or The Great Chronicle of Ceylon (London: Oxford University Press, 1912), lvii, 26-51.

[12] P. Groner, (tran.), A History of Indian Buddhism: From Skyamuni to Early Mahayana (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998), 129.

[13] T 29, no.1562, 495b.

[14] T 49, no.2031, 16c.

[15] KL.Dhammajoti, Sarvāstivāda Abhidharma (Hong Kong: The University of Hong Kong, 2007), 13.

[16] Kimura Taiken, 阿毘達磨論書的研究, trans. 釋依觀 (台灣: 台灣商務, 2018), 15-27.

[17] K. Mizuno, Op. Cit., 64 ff.

[18] P.M Tin, trans, The Expositor (Atthasalini): Buddhaghosa’s Commentary on the Dhammasangani, The First Book of the Abhidhamma-Pitaka, Vol. I (London: Oxford University Press, 1920), 5.

[19] Ibid., 68.

[20] T 41.11a

[21] T 41.814b

[22] T 29, no. 1558, 152c.

[23] KL.Dhammajoti, Op. Cit., 259.

[24] T 27.702a.

[25] KL.Dhammajoti, Op. Cit.,617.

[26] H. Akira, Op. Cit., 137.

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên