
Văn thơ viết bằng chữ Hán vốn là một phần tinh hoa trong văn học nước ta. Nhiều tác phẩm được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường Phổ thông cơ sở và Phổ thông trung học. Song đó chủ yếu chỉ là các bản dịch, phần phiên âm nguyên tác, chỉ để tham khảo. Trong số các bản dịch thơ cũng có bản đạt đến trình độ cao, lột tả được nội dung, tinh thần nguyên tác. Nhưng đa số các bản dịch, do khuôn khổ chật hẹp về số câu số chữ, về niêm luật khắt khe v.v. đã làm hạn chế đến việc thể hiện tinh thần của nguyên tác. Bởi vậy đã dẫn đến tình trạng có những đánh giá khác nhau về cùng một tác phẩm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc truyền thụ tri thức văn học cho học sinh.
Trong bài viết này, tôi xin đề cập đến một trường hợp cụ thể là bài thơ Ngôn hoài của Thiền sư Không Lộ (được chọn giảng ở chương trình văn học lớp 10 phổ thông trung học).
Trước hết xin đề cập đến các bản dịch bài thơ hiện đang lưu hành, có đôi chỗ phải đính chính.
Bản dịch nghĩa và dịch thơ in trong sách giáo khoa Văn 10 (Nxb. Giáo dục-Hà Nội 1991), nguyên văn như sau:
Ngôn hoài
(Tỏ lòng)
Phiên âm:
Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Dịch nghĩa:
Chọn được mạch đất long xà (rồng rắn) là nơi ở được,
Tình quê suốt ngày vui không chán.
Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọi,
Kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời.
Dịch thơ:
Kiểu đất long xà chọn được nơi,
Tình quê nào chán suốt ngày vui.
Có khi đỉnh núi trèo lêu thẳng,
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.
Phan Võ dịch
(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập II. Nxb. Văn hoá, 1962). Bản in trong Thơ văn Lý Trầntập 1, (Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977) phần dịch nghĩa cũng tương tự như vậy, chỉ khác vài ba chữ như: Câu dịch đầu là: “Chọn được kiểu đất long xà rất hợp, có thể ở được”. Câu 3: thay “trơ trọi” thành “trơ vơ”. Còn trong phần dịch thơ (dịch giả Kiều Thu Hoạch) chỉ có hai câu 2 và 3 dịch khác như sau:
Tình quê lai láng chẳng hề vơi
Có khi xông thẳng lên đầu núi…
Hai câu còn lại (1 và 4) giữ nguyên như bản dịch của cụ Phan Võ (nêu ở phần trên).
Cả hai bản dịch thơ đều có chung một ưu điểm là giữ được thể thơ tương xứng và giữ đúng “niêm luật” thơ Đường. Tuy nhiên cả hai bản dịch nghĩa và dịch thơ, ở hai tập sách đã dẫn đều có nhiều chỗ cần phải bàn lại như sau:
1) Đầu đề “Ngôn hoài” dịch là “Tỏ lòng” hoặc “Tỏ nỗi cảm hoài” (Thơ văn Lý Trần) là chưa đúng. Ngôn có nghĩa là: nói, nói ra, bày tỏ; hoài: lòng, nỗi lòng, nói ra nỗi lòng, mới đúng vì chủ thể của hai động từ “tỏ” và “bày tỏ” hoàn toàn khác nhau.
2) Cả hai bản dịch thơ đều bỏ từ sau không dịch: Khả cư (đáng ở), cô phong (chóp núi đơn lẻ).
Dịch sai hoặc chưa chính xác một số từ, mà lại là những từ quan trọng (nhãn tự), đó là các từ dưới đây:
– Dã tình: Không thể dịch là “tình quê”. Trong 6 nghĩa của từ “dã” trong từ điển, không có nghĩa nào là “quê” (kể cả nghĩa quê mùa, quê kệnh). Ở đây nghĩa là “không bị câu thúc, ràng buộc” (nghĩa thứ 6), theo Từ Hải).
Vậy “dã tình” nghĩa là tình cảm tự nhiên không bị câu thúc.
– Vô dư: Vô: không; dư: thừa. Ở đây có nghĩa không lúc nào thừa thời gian. Dịch là “lai láng chẳng hề vơi”, hoặc “nào chán” đều quá xa với nghĩa nguyên tác.
– Trực thướng: (phiên âm “trực thượng”, là không chính xác). Nghĩa là: lên thẳng, “trực” còn hàm ý đi một lèo. Không băn khoăn lưỡng lự, hoặc rẽ ngang rẽ tắt, không chỉ đơn thuần chỉ chiều hướng của động tác. Vì vậy dịch là “xông thẳng” (Thơ văn Lý Trần)hoặc “trèo lên thẳng”, trái với hàm ý nhẹ nhàng, thanh thoát trong nguyên tác, quá nghiêng về động tác cụ thể, mất ý nghĩa ước lệ mà nguyên tác muốn nói tới.
– Trường khiếu: Không thể dịch là “kêu dài”. Trong các từ điển hán ngữ “khiếu” có 4 nghĩa, thì có hai nghĩa có thể vận dụng vào trường hợp từ “trường khiếu” ở bài này. Một là “huýt sáo”, “huýt gió” (súc khẩu nhi xuất thanh) dùng cho người, ví dụ: Đăng cao trường khiếu (lên cao huýt sáo dài…). Kinh Thi có câu: “Kỳ khiếu nhị ca” = “Huýt sáo theo điệu hát”. Sở từ cũng có câu: “Lâm thâm uyên nhi trường khiếu = Đứng trước vực nước sâu mà huýt sáo”. Thơ Trúc Lý quán của Vương Duy cũng có câu: Đàn cầm phục trường khiếu của = Dạo đàn lại huýt sáo. Đủ thấy con người chỉ “trường khiếu” (huýt sáo chứ không phải là “kêu dài”, khi tâm hồn lâng lâng thanh thoát…
Còn nghĩa thứ hai của “khiếu” là: kêu, gào, gầm… dùng với vật. Ví dụ: hổ khiếu (hổ gầm), làng khiếu (sói gào), viên khiếu (vượn kêu)… Thơ Đăng cao của Đỗ Phủ có câu:“Phong cấp thiên cao viên khiếu ai = Gió thổi gấp, trời cao, vượn kêu buồn thảm”. Thơ Lý Bạch bài Kinh Hạ Bì Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng cũng có câu “Tử Phòng vị hổ khiếu, Phá sản bất vi gia = Chàng Tử Phòng khi “hổ chưa gầm”, tiêu hết của cải không cần nhà cửa”. Phạm Trọng Yêm, trong Nhạc Dương lâu ký cũng có câu: Bạc mộ minh minh, hổ khiếu viên đề = Chiều hôm u ám, hổ rống vượn kêu”.
– Thái hư: dịch là “trời” chưa đủ. “Thái hư” là nơi tận cùng của trời. Trong giáo lý nhà Phật, “Thái hư” được hiểu là cõi vĩnh hằng, nơi “không sinh không diệt”. Vậy theo nguyên tác, nghĩa bài thơ phải được diễn dịch như sau:
Bày tỏ nỗi lòng
Chọn được thế đất hình “rồng rắn” rất đẹp dáng ở mãi. Tình cảm tự nhiên suốt ngày không lúc nào không vui. Có khi lên thẳng một mạch đến đỉnh chóp núi đơn lẻ. Huýt một tiếng sáo dài làm ớn lạnh đến tận cõi Thái hư.
Trong sách giáo khoa Văn 10, phần hướng dẫn học bài Ngôn hoài, ở câu hỏi 2, người hướng dẫn viết: “… Tại sao đang nói ý tươi vui với tình quê như thế lại chuyền sang nói ý một mình trèo thẳng lên đỉnh núi trơ trọi kêu dài một tiếng làm lạnh cả bầu trời? Ở đây tư thế và khát vọng của con người là như thế nào?” Câu hỏi hướng dẫn như vậy, không thể hiều khác là hướng cả người dạy và người học vào một triết lý nhân sinh của con người “thế tục”, không phải triết lí của một nhà tu hành từng được coi là đã : “ngộ đạo”, thoát tục như Thiền sư Không lộ (Xem Thiền uyển tập anh).
Sở dĩ hiểu như vậy, có lẽ người hướng dẫn đã bị những từ dịch sai nghĩa là “Xông thẳng”, “kêu dài” dẫn dắt mạch suy nghĩ.
Cũng chính vì căn cứ vào bản dịch và tinh thần những lời hướng dẫn trên, tác giả Nguyễn Phạm Hùng trong bài viết hướng dẫn thay sách lớp 10 cải cách của trường Đại học Sư phạm Việt Bắc năm 1990, sau khi phân tích tỉ mỉ về “tâm thức thiền” của tác giả, anh đã kết luận: “Con người trong bài thơ, con người đam mê giữa mênh mông không gian, thiên nhiên sống động kỳ tuyệt, giữa vô tận thời gian của niềm khoái cảm tột cùng, bỗng đột khởi một hành động phi thường, vụt lớn lên chót vót như đỉnh núi cao có tầm vóc kỳ vĩ, đối diện với cả vũ trụ lớn lao làm cho cả bầu trời phải thay đổi trước một tiếng kêu dài sảng khoái” (trang 108)… cuối cùng tác giả còn khẳng định một lần nữa về chủ đề của tác phẩm: “Bài thơ thể hiện niềm say mê yêu đời và tâm trạng sảng khoái, hào hùng của tác giả, ngợi ca vẻ đẹp kỳ vĩ và sức mạnh phi thường của con người trong thế giớ rộng lớn”. (Trang 108 – Hướng dẫn giảng dạy văn học lớp 10 – tài liệu bồi dưỡng thay sách).
Những lời đánh giá này về nội dung tác phẩm, nếu lấy bài thơ dịch làm gốc thì còn đượ, nhưng nếu đem gán cho nội dung nguyên tác thì thật quá xa.
Theo tôi, nội dung và chủ đề bài thơ chỉ giản dị và chân thực là: thể hiện tầm lòng vui với đạo của tác giả. Đó là tình cảm thanh thản thoát tục khi tìm được nơi ở thích hợp giữa núi rừng thanh tĩnh, giữa vạn vật thiên nhiên, hợp với tình cảm “tự nhiên nhi nhiên”, (dã tình) hoà đồng với thiên nhiên với vũ trụ của người tu hành, thể hiện tư tưởng “vạn vật nhất thể” của Thiền học. Chính trong cái cảm giác lâng lâng, thanh thản không hề biết đến sự chuyển kvkận của thời gian (chung nhật lạc vô dư), tác giả đã đi thẳng một mạch đến đỉnh cao chót vót của ngọn núi. Hành vi thanh thản đi thẳng lên ngọn núi không chỉ lài cái thú thưởng ngoạn thiên nhiên, ở đây còn là biểu tượng của con đường thẳng dẫn đến đỉnh cao chân lý, đỉnh cao của sự “giác ngộ” mà tựa như chỉ có riêng tác giả (Không Lộ) mới đạt tới được bằng con đường chuyên nhất thẳng tới chân lý nhà Phật không một băn khoăn do dự (“trực thướng” là vậy chứ đâu phải là “xông lên”, “trèo lên”). Ngược lại chỉ có từ trên đỉnh cao duy nhất của sự “giác ngộ” (cô phong) thì “tuệ nhãn” mới mở rộng tầm “thức nhận” chân lý, đúng với nghĩa “đăng phong tạo cực” (lên tới đỉnh cao thấy được hết tầm). Đó cũng chính là quá trình nhận thức giáo lí Phật: Từ thấp đến cao, từ cao đến sâu rộng. Và khi đã đạt đến đỉnh cao của sự “giác ngộ”, thì cái bản thể nhỏ bé đã hoà đồng vào vạn vật, trở thành một tế bào của vũ trụ. Chứng minh cho chân lý ấy chẳng có gì khó khăn: Chỉ một làn hơi thở trong tiếng huýt sáo giữa lúc sảng khoái nhất khi tâm hồn đã ngộ đạo, một rung động cơ năng của bản thể giữa lúc vô tình ấy thôi cũng đủ làm ớn lạnh (hàn) đến tận cùng của “ba ngàn thế giới”, cõi “Thái hư”, nơi vô thủy vô chung, vô sinh vô diệt. Đó thực mới chính là “nỗi lòng” (hoài) mà nhà sư muốn bày tỏ (ngôn) mà đây cũng là dấu ấn “Thiền” trong thi phẩm của một nhà tu hành từng cõi công danh phú quý ở cõi đời là thứ phù du.
Mặt khác, dù cho vô tình ta vẫn nhận ra đằng sau bóng nhà tu hành Không Lộ, thấp thoang ẩn hiện một nhà thơ Không Lộ. Tâm hòn thi sĩ như phảng phất hiện ra sau hai từ “cô” và “hàn”. Cảm giác “đơn lẻ” và “ớn lạnh” đó, đâu phải là cảm giác của nhà tu hành chuyên tâm “thiền định”, càng không phải là cảm giác của đỉnh núi vô tri và cõi “Thái hư” vô hình, mà hoàn toàn là cảm nhận bằng giác quan của thi nhân thế tục! Đây lại cũng chính là nét “nhân văn” còn lại trong tác phẩm.
Giáo sư Đặng Thai Mai còn tinh và sâu hơn, cho ta một nhận xét thú vị rằng: Tâm hồn nhà sư thi sĩ này còn nhuốm thêm cả mầu sắc của đạo học, hay đúng hơn là của một thầy “phong thủy” (xem bài: Mấy lời tâm đắc về một thời đại Văn học – Đặng Thai Mai –Thơ văn Lý Trần tập 1).
Song theo tôi “thế đất long xà” ở đây chưa hẳn là thể hiện sự chọn lựa chỗ ở của một “thầy phong thủy” (địa lý) mà nhà sư chỉ muốn mượn cái khái niệm đẹp ấy để ca ngợi chốn thiên nhiên thích hợp với sự tu hành của mình mà thôi. Đọc tiểu sử của nhà sư ta thấy không có chi tiết nào nói đến việc nhà sư đi tìm mạch đất tốt để làm nhà! Mà chỉ thấy nói: ông là người sống bình dị, thuần phác, không màng danh lợi…
Trên đây là một vài kiến giải của tôi về bài thơ Ngôn hoài. Tôi không khẳng định những kiến giải đã trình bày trên đây là chân lý. Chỉ mong góp một cách hiểu để làm sáng tỏ thêm nội dung bài thơ. Có gì sai sót mong các thức giả xa gần chỉ giáo.
TRẦN NGỌC CHUỲ (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (22) 1995)





