
Học Phật là để biết ta là người làm chủ vận mệnh mình; biết luật nhân quả bao trùm mọi sinh hoạt của nhân sinh trong vũ trụ; biết ta có trí tuệ để chọn đi con đường sáng; biết từ bi để yêu thương ta cũng như yêu thương mọi người.
Còn bậc thức giả nào cảm thấy mình cao minh hơn, thì hãy để thì giờ viết một cuốn sách khác. Cũng như công ty Apple thấy các hãng sản xuất điện thoại di động – một loại thiên nhĩ thông thời nay – chưa được hay lắm, thì họ lẵng lặng sáng chế ra iPhone – một loại vừa thiên nhĩ thông và thiên nhãn thông.
ogle thấy như vậy cũng chưa phải là tuyệt kỹ, lẵng lặng cho ra đời loại Android Smart Phone, vừa là thiên nhĩ, thiên nhãn và thần túc thông cộng lại! Nhờ vậy mà loài người tiến bộ không ngừng. (Nói tới thần thông nhờ tu tập, truyện cổ Phật giáo có kể: đức Phật ngày nọ đến bờ sông và đợi đò. Có người bà la môn đến khoe: Ngài muốn qua sông và đợi đò à? Tôi có thần thông có thể đi trên mặt nước. Phật ôn tồn hỏi: Ông phải mất bao nhiêu thời gian để tu luyện? Đáp: Mất 20 năm. Đức Phật từ tốn: Vậy à? Còn tôi chỉ mất 2 xu là qua sông được.)
Có ý kiến cho rằng chuyện học Phật là chuyện của các nhà tu chuyên nghiệp –“đầu tròn áo vuông”, nói theo chữ của Tổ Lâm Tế. Nếu ai cũng lo tu hết thì chuyện đời, chuyện quốc gia, xã hội bỏ cho ai.
Thật ra đó là quan niệm sai lầm mà mọi người đều mắc phải khi còn trẻ và chưa biết học Phật. Nhìn lại lịch sử, chẳng hạn như đời Trần, các vua quan đều biết “học Phật” nên dân Việt và nước Việt đã no ấm, cường thịnh một thời.
Ba lần đánh bại giặc Nguyên, giữ yên bờ cõi. Vua Trần Nhân Tôn sau đó đã tu đắc đạo và được tôn làm Sơ Tổ Thiền phái Yên Tử Trúc Lâm. Còn ngày nay ở Nhật, ngoài các tu viện ra, còn có những hội Phật học của cư sĩ mà số hội viên lên đến hơn 5 triệu (Nikkyo Niwano – A Guide to the Threefold Lotus Sutra).
Phần lớn các quan chức và nhân viên chuyên nghiệp các ngành nghề, từ thủ tướng, bộ trưởng, đến bác sĩ, kỹ sư, giáo chức.., đều là người có học Phật. Nhờ vậy, Nhật từ lâu đã là một cường quốc kinh tế trong vùng, dù đất nước họ chẳng có tài nguyên gì để phát triển.
Còn ở Mỹ, tỉ phú Bill Gate sau khi làm giàu đã mang tiền tỉ mua thuốc chích ngừa Sốt Tê liệt cho toàn thể mấy trăm triệu con trẻ ờ Châu Phi và Ấn độ, cứu con người thoát cảnh què quặt vì bị bệnh tê liệt.
Và rất nhiều tỉ phú, triệu phú vô danh khác lo đóng góp cứu độ người nghèo khổ, bệnh tật trên khắp thế giới. Tuy không thấy họ học Phật, nhưng đó là hình ảnh của Bồ tát Quán Âm, Bồ tát Duy Ma đang áp dụng Bồ đề tâm để thành tựu chúng sanh.
Cũng có người bảo đạo Phật quá yếm thế, toàn dạy chuyện chán đời: nào là “vô thường, khổ, không, vô ngã, giải thoát”. Thử nhìn những đạo khác, như đạo Chúa chẳng hạn. Với lời dạy thực tiễn “Hãy tin Chúa đi, rồi Chúa cho”, nên khi bước ra khỏi nhà thờ sau những buổi lễ thì giáo chúng mặt mày tươi tắn như là được tự kỷ ám thị; về nhà hăm hở làm ăn, nên ai cũng giàu có, khá giả.
Còn sau buổi nghe thuyết pháp ở chùa thì phật tử hầu hết trở nên u sầu như mới vừa trốn thoát nợ (mà cũng phải, vì phần lớn các “thầy” đều kêu gọi đóng góp quĩ xây chùa), nhìn đời u ám, không còn ai có nét phấn khởi, tin yêu.
Nhất là lớp trẻ. Các cháu than thở: Mới yêu thương nhau trong tuổi mộng mơ mà nghe các thầy tu giảng lời Phật dạy “Bất sát, bất đạo, bất dâm”, phải đi tu từ nhỏ mới có phước, thì thật là nản lòng!
Thử nghĩ một Thái tử đã đi tu thành Phật, rồi vẽ lại bản đồ giải thích con đường đã đi “từng bước” trong 300 Pháp hội cho tất cả chúng ta – mà ta làm không xong. Còn các khoa học gia kia phải mò mẫm đi tìm, sai cách này thì làm lại cách khác; vậy mà họ đã thành công từ cái bất khả tư nghì này sang cái bất tư nghì khác trong một thời gian không lâu lắm, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Chính vì vậy mà người viết mới phải ra công, trình bày lại vấn đề kỹ thuật này: “Học Phật để thành Phật và làm Phật”, hầu không phụ bản hoài của đức Phật từ mấy ngàn năm qua. (Chẳng phải đức Phật đã xác minh “Ta là Phật đã thành; Chúng sanh là Phật sẽ thành”, hay sao?)
Chúng ta phải khẳng định rằng: Người ngày nay thông minh hơn người thời xưa. Người xưa chỉ biết đi bộ và giỏi lắm là cởi ngựa. Ngày nay chúng ta đi xe hơi, còn con cháu chúng ta lái phi cơ phản lực và phi thuyền. Cho nên khi chúng ta học Phật, chắc chắn phải học nhanh hơn, tốt hơn và đúng hơn cách người xưa đã học – nếu biết cách học.
Điều quan trọng là cần phải biết bỏ đi cái tự ti mặc cảm “Kẻ Cùng tử” của người xưa – không dám nhận ông phú hộ là Cha mình để kế thừa di sản, mà chỉ bằng lòng với thân phận hèn mọn của kẻ hốt phân! (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Tín Giải, thí dụ của Tu Bồ Đề, Đại Ca Diếp trình với Phật – Bản dịch của Đại Lão HT.Trí Tịnh.)
![]() |
Học Phật là để tu thân, sửa mình cho con người sống ra con Người hơn – khác hẳn mọi loài động vật. Con Người khác con vật ở chỗ biết dùng Trí tuệ để phát triển đời sống cho ngày càng tốt đẹp; biết dùng Tấm lòng để thương yêu, chia xẻ, đùm bọc và khoan thứ cho nhau. Bởi vì con người cũng là một động vật, lại xuất hiện trên trái đất này sau các động vật khác hàng triệu năm. Nhưng do một nhân duyên nào đó mà bộ óc con người phát triển hơn các loài động vật khác.
Từ bộ óc đơn thuần như loài vật, được đắp thêm lên một lớp vỏ não thật dày bên ngoài có chứa những mạch thần kinh về ngôn ngữ, văn tự, toán học, nghệ thuật, triết học, khoa học và tư tưởng siêu hình. Vỏ não lại được chia hai làm 2 phần: bên trái và phải, khiến cho con người vừa có trí tuệ vừa có tâm hồn; khác hẳn loài vật chỉ có thuần bản năng. Sự phát triển này kỳ diệu đến độ các nhà tư tưởng thời xưa và nhà khoa học ngày nay phải ngạc nhiên mà tán thán: Con người là sinh vật tối linh trong vũ trụ.
Học Phật để biết mà lấy lại quyền làm chủ Vận mạng của chính mình từ thần linh, để biết không có thần thánh nào có quyền ban phước hay giáng họa trên đời sống mình, không còn phải cầu cạnh các thần sông, suối, gốc cây, gộp đá.., để xin được bình an.
Ta có bình an hay không là do ta có sống tốt với mọi người hay không. Ta có cơm no áo ấm hay không là do ta có hay cứu giúp những kẻ trong cảnh khốn cùng hay không. Ngay một nhà quân sự như Nguyễn Trãi ở mấy thế kỷ trước mà cũng đã nhắc nhở con cháu:
Đông phương là nơi có nhiều hệ thống tư tưởng vĩ đại phát sinh từ mấy ngàn năm xa xưa để đáp ứng nhu cầu nhân bản này. Xưa nhất là tư tưởng kinh Dịch rồi đến tư tưởng của Khổng tử và Lão tử, ra đời ở Trung quốc.
Còn Phật giáo cũng hình thành khoảng thời gian đó, nhưng ở tận Đông Bắc bán đảo Ấn độ. Đến khoảng đời Tần mới thấy lời dạy của Đức Phật được truyền bá sang Trung thổ; khởi đầu từ các nhà vua.
Dịch kinh gồm có 64 quẻ – cũng gọi là 64 quái, để mô tả về sự vận hành của Trời Đất ảnh hưởng đến con người. Câu mở đầu của Kinh là: “Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, thị sinh Tứ Tượng, thị sinh Bát Quái.” (Đạo lý trong trời đất là sự biến đổi không ngừng: Từ 1 khối khí to lớn trong vũ trụ mà phân 2 thành Âm và Dương, rồi từ âm dương chia làm 4 phương, rồi 4 phương thành 8 hướng, gọi là bát quái). Bát quái này biến đổi bình phương thành 64 quái, giải thích hết mọi nguyên nhân thành bại, đắc thất trong đời người.
Người dân thời đó muốn làm việc gì cũng tin vào quẻ Dịch (đi buôn, đi thi, đi cưới vợ, cất nhà…), ông tướng muốn đem quân đánh trận cũng xem quẻ Dịch, nhà vua muốn du hành phải bói Dịch. (Chẳng hạn, thời Tam Quốc, Khổng Minh 7 lần ra quân đều xem quẻ Dịch, biết trước là sẽ bị bại, nhưng vì muốn đền ơn tri ngộ của Lưu Bị đã từng “tam cố thảo lư” nên vẫn phải ra đi để hao binh tổn tướng.)
Chính hệ thống tư tưởng Dịch này đã tạo ra thuyết Thiên Mệnh của Khổng tử. Mọi sự của đời người đều đã do Trời cao sắp đặt, không thể sửa đổi – cũng như thuyết Giai cấp của đạo Bà la môn.
Còn ở Việt nam thì ông cha ta cũng có câu: “Con vua thì được làm vua / Con sải ở chùa thì quét lá đa.” Ngay cả người có quyền cao chức trọng như Ôn như Hầu Nguyễn Gia Thiều còn phải than thở: “Vẽ chi ăn uống sự thường / Cũng còn Tiền định khá thương lọ là” – Cung Oán ngâm khúc.
Về mặt ứng dụng, Khổng giáo dạy “Tu, Tề, Trị, Bình” cho người “trượng phu”. Trượng phu là tiếng chỉ người nam, thường là con nhà giàu hay nhà quan. Chỉ có tầng lớp này mới được đi học để mai sau thi đỗ, giúp vua trị dân. Còn dân thường và nhà nghèo thì phải chịu dốt nát. Vì vậy, các trượng phu này lúc nhỏ được dạy phải “tu thân” sửa mình, chừa bỏ các thói hư tật xấu, khiến con người trở nên có đạo đức; trên biết kính thờ cha mẹ, dưới thuận thảo với anh em.
Như vậy, đến tuổi lập gia đình có vợ con mới biết “tề gia”; nghĩa là làm sao cho gia đình có nề nếp trật tự, không có “cá đối bằng đầu”. Đến khi học đỗ làm quan mới có khả năng “trị quốc” tức cai trị dân trong địa phận của mình. Lúc đó sẽ được gọi là quân tử hay đại nhân.
Khổng tử sống vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, gồm nhiều nước nhỏ như bộ lạc, ở phía Bắc sông Hoàng Hà. Các nước nhỏ này luôn có chiến tranh thôn tính nhau để mở mang bờ cõi.
Vì vậy khi Khổng tử dạy học trò đạo “Tu, Tề, Trị” thì ngài thêm vào “Bình”, để khi kẻ trượng phu này theo lệnh vua đi đánh chiếm bộ lạc của người khác thì biết thế nào là “bình thiên hạ” – nghĩa là làm cho dân bị trị có cảm tưởng là đang an hưởng thái bình và được cai trị tốt hơn chế độ trước!
Ưu điểm của giáo lý Khổng học là muốn cho những người làm chủ vận mệnh người khác trong một nước, một địa phương, một gia đình (vua, quan, chồng, cha) phải có đạo đức, có lý trí, biết trật tự, kỷ cương; khác với loài vật chỉ biết dùng bản năng và sức mạnh để lấn hiếp, ăn nuốt lẫn nhau.
Ngài dạy: “Vua phải ra vua, tôi phải ra tôi; cha phải ra cha, con phải ra con; chồng phải ra chồng, vợ phải ra vợ” (Luận Ngữ) -, nghĩa là trong mỗi cương vị, ai cũng phải giữ tròn trách nhiệm và đạo đức của mình.
Về đạo lý thì ngài dạy Tam Cương – tức là 3 giềng mối hay bổn phận để giữ vững trật tự quốc gia xã hội. Đó là: Quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương – tức bổn phận của vua đối với dân, cha đối với con, chồng đối với vợ. Và Ngũ Thường – là 5 điều đạo đức để làm người, không thể thay đổi trong cách hành sử, giao tiếp với nhau. Đó là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, và Tín.
Nếu Khổng tử dạy những tư tưởng và lối sống “nhập thế” rất thích hợp cho đa số người trẻ thời bấy giờ – học Đạo để ra làm quan giúp vua trị nước, thì Lão tử chủ trương “xuất thế”, được đa số tuổi già – những người cảm thấy mình đã chân mòn gối mỏi, ca ngợi.
Trước khi lánh đời, bỏ đi mất tích vào vùng sa mạc, Lão tử đã để lại một tập sách nhỏ gồm 5 ngàn chữ, nhan đề “Đạo Đức Kinh”, dạy hậu thế cách sống Vô Vi ở đời. Sách cũng định nghĩa Đạo là gì, và con người phải sống sao cho đúng Đạo.
Theo Lão tử, Đạo là vô hình, là không tên, là không thể biết, tạm gọi là Vô Cực. Những câu mở đầu như sấm sét của Đạo Đức Kinh, là: “Đạo khả đạo phi thường Đạo; Danh khả danh phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thỉ; Hữu danh vạn vật chi mẫu.” ( Đạo mà gọi được là Đạo, thì không phải là Đạo “thường hằng” đáng được ca ngợi.
Danh mà được gọi là danh, thì cũng chỉ là giả Danh không phải thực. Cho nên Không-tên là cái mở đầu của trời đất; còn những cái có-tên là do con người đặt cho vạn vật về sau.)
Thêm nữa, “Phàm điều gì vật gì mà ai cũng biết là tốt, thì trong đó đã có cái xấu rồi; ai cũng tưởng là điều lành, thì trong đó đã chứa điều ác rồi” (Đạo đức kinh). Vì vậy, Lão tử chủ trương Vô Vi – đừng làm gì cả; ví như mặt trời rọi xuống trăm hoa, cái nào nở thì nở, không thì thôi.
Thực ra, Đạo của Khổng tử là dạy cách sống thực tế để áp dụng vào đời: ”Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo; nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo.” (Trung Dung) – Đạo phải không xa với sự hiểu biết của con người, mới là Đạo của con người. Còn Đạo mà quá tầm hiểu biết của con người, thì không thể gọi là Đạo.
Và ngài khẳng định, người có học để ra làm quan thì phải biết Đạo: “Đại học chi Đạo, tại minh Minh Đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
Tri chỉ nhi hậu hữu Định, định nhi hậu năng Tĩnh, tĩnh nhi hậu năng An, an nhi hậu năng Lự, lự nhi hậu năng Đắc. Vật hữu bản mạt, Sự hữu chung thỉ; tri sở tiên hậu tắc cận Đạo hỉ.”(Sách Đại học) – (Cái Đạo của người quân tử khi học để ra làm việc nước là trước hết phải tu dưỡng đạo đức con người mình, rồi khi ra cai trị dân thì phải làm cho đời sống của dân mỗi ngày một no ấm và tiến bộ hơn, tiến đến mức độ tốt nhất mới ngừng nghỉ.
Phải có phương án, kế hoạch cải tiến dân sinh để biết đến đâu mới ngừng, thì tâm người làm quan mới Định, Tĩnh, và An . Nhờ tâm an mới có thể suy nghĩ cho kế hoạch an dân được thành công. Vật gì cũng có gốc ngọn, Việc gì cũng có trước sau. Biết được trước sau, gốc ngọn là đã gần với Đạo rồi.)
Thời đại bấy giờ là thời đại Thần quyền. Mọi sự việc liên quan đến con người đều do trời đất, thần thánh quyết định. Con người tin tưởng như vậy. Bọn vua chúa cũng để dân đen tin tưởng như vậy – vì vua là thiên tử, là con Trời – hầu dễ cai trị đám dân ngu, dốt nát và mê tín. Trong khung cảnh đó, tầng lớp có quyền thế đối xử tàn bạo với nhau và cả với dân đen – còn hơn thú dữ trên rừng. Tư tưởng của Lão tử về sau lại bại hoại và sanh sôi nẩy nở ra bọn phù thủy, đồng bóng, thầy pháp chuyên gạt người với những trò cầu cúng và trị bệnh bằng bùa chú, âm binh. Người ta giết trẻ con để tế lễ thần linh, để cầu cho mưa thuận gió hòa, để ruộng đồng tươi tốt.
Người ta lạy gốc cây, hòn đá, gò mối…để cầu cho gia đạo yên ổn, sung túc – một cách u mê, không có đầu óc. Tất cả sự việc này xảy ra trên khắp Trung thổ thời bấy giờ. Các nhà trí thức Trung quốc cảm thấy bất lực trước sự tàn bạo ngu xuẩn đó. Và ở Ấn độ cũng vậy. Cho đến khi Đức Phật ra đời ở Bắc Ấn. Cho đến khi lời dạy của Đức Phật được truyền bá đến Trung thổ và lan ra các nước man, rợ, di, địch chung quanh, kể cả Nhật bản xa xôi ngoài hải đảo.
Điều này đã được dẫn chứng trong kinh: Có một nhóm thầy cúng Bà la môn muốn đi làm tiền dân chúng, mới rêu rao rằng: Ai có tiền nhiều dâng cúng, sẽ được cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà, cửu huyền thất tổ, thân quyến siêu sinh. Đức Phật mới hỏi các vị bà la môn: Nếu ta ném một hòn đá xuống giếng sâu, rồi đưa tiền nhờ quí vị cầu nguyện cho hòn đá nổi lên, quí vị có làm được không? Nhóm bà la môn đáp: Không được, hòn đá nặng quá làm sao mà nổi lên được.
Phật lại hỏi: Nếu ta đổ một thùng dầu xuống mặt giếng đầy, rồi trả tiền nhờ quí vị cầu nguyện cho dầu chìm xuống đáy, quí vị có làm được không? Đáp: Không được. Dầu vốn nhẹ quá, chúng tôi không thể làm cho chìm được. Đức Phật quay lại chúng đệ tử và nói: Cũng vậy, khi một người sống đời bạc ác, tội nghiệp quá nặng, thì không thể cầu siêu cho thoát nghiệp đã tạo được.
Điều quan trọng thứ nhì, Phật dạy, là mỗi người đều có Trí tuệ (gốc tiếng Phạn là Buddh), biết phân biệt phải trái, trắng đen. Nhờ vậy có thể sửa đổi bản thân, thay đổi vận mệnh xấu thành ra tốt. Tất cả chỉ là vấn đề Nhân Quả. Không phải chỉ có đời trước tạo nghiệp cho đời này; mà chính đời này cũng tạo nghiệp cho đời này. Cứ ngồi yên mà quán chiếu (suy nghĩ) sẽ thấy: 20 năm đầu của con người tính từ lúc chào đời là do thọ nghiệp quả của kiếp trước.
Nhưng những năm ấu thơ và trưởng thành này, nều siêng năng ăn học và nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, cũng là nhân duyên tốt cho 20 năm sau – từ 20 tuổi đến 40. Cứ mỗi 20 năm tiếp theo là kết quả được hưởng của 20 năm trước và là nguyên nhân của 20 năm sau đó.., cho đến ngày nhắm mắt lìa đời. Cuộc sống vui hay khổ, phước báu hay nghiệp chướng đều do chính mình tạo ra – tự làm tự chịu. Đơn giản như vậy. Trí tuệ sáng suốt biết chọn lựa điều tốt điều phải để sống và sửa mình này được gọi là “Phật tính”.
Đức Phật được tôn vinh là người có Trí tuệ sáng suốt nhất – là người Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thế gian giải, Thiên nhân sư – nên được dân Ấn độ tôn sùng là Buddha. [Người Tàu phát âm tiếng Buddha của Ấn độ thành “Fo”. Khi đạo được truyền từ Trung quốc sang Việt nam, người Việt phát âm “Fo” ra “Phật”.
Đây là đạo Phật Bắc truyền. Một con đường thứ hai là Nam truyền, khi các nhà sư Ấn Độ đi theo các nhà buôn bằng đường biển tới vịnh Bắc Việt, mang đạo vào kinh đô Luy Lâu của nước Việt lúc bấy giờ. Nghe họ phát âm là “Buddha”, ông cha ta lập lại là “Bụt”. Nên trong các truyện cổ Việt nam từ thời Văn Lang trở đi, ta thấy “ông Bụt” hay xuất hiện cứu giúp người bị oan trái hay khổ đau. Vậy Phật hay Bụt là cùng một nghĩa.]
Tóm lại: Học Phật là để biết ta là người làm chủ vận mệnh mình; biết luật Nhân Quả bao trùm mọi sinh hoạt của nhân sinh trong vũ trụ; biết ta có Trí tuệ để chọn đi con đường sáng; biết Từ bi để yêu thương ta cũng như yêu thương mọi người. Nhờ vậy mà ta tự Giải thoát khỏi mọi phiền não, hệ lụy trong đời, đạt tới cảnh giới thân tâm an lạc và thanh tịnh. Và đó là cảnh giới của chư Phật.
Còn nữa…
Tác giả Minh Tâm






