3. BẢO SANH NHƯ LAI: (Ratnasambhava Buddha)

Màu sắc: Vàng (Huỳnh kim)

Màu huỳnh kim, biểu tượng sự chín muồi, thành quả tốt đẹp của mọi vật trong tự nhiên giới.

Có công năng tác động lên bản chất về sự nhu hòa, khoan dung như tình yêu thương của mẹ hiền đối với con thơ.

Màu huỳnh kim cũng là sự trợ lực cho màu trắng để xóa tan đi bao chướng ngại ở dòng Ý tâm.

Gần đây khoa học chuyên gia về thực phẩm, họ thử nghiệm và rút ra được kết luận rằng: Các loại màu sắc trong thức ăn như màu đỏ, màu đà đậm, màu xanh đậm và màu xanh lá cây, có tác động mạnh lên thái độ của tuổi thơ và tuổi vị thành niên. Trong khi đó, các loại thực phẩm có màu huỳnh kim và màu trắng, hoặc các loại không màu sắc lại làm cho trẻ con bớt đi sự ngỗ nghịch.

Phương hướng: Nam

Sự vận hành của tiên thiên và địa khí một khi trở về đến phương Nam, thì đã trưởng thành trong trạng thái rất thăng bằng, chuẩn bị cho tư thế phù việt sáng tỏ lên khi tiến đến vùng Tây, để sau cùng ẩn tàng và thẩm thấu vào mùa Đông lãnh.

Trên phương diện tâm linh, càng thực tập sâu sắc về bốn cam kết của Bảo Sanh Như Lai, Ý tâm của ta càng kiên định vững vàng trong niềm đại lạc.

Tịnh độ: Nam phương Shrimati Tịnh độ.

Tịnh độ Shrimati tương tự như tịnh độ của đức Phật Thích Ca, vàng ròng rực rỡ sáng trong, biểu tượng cho sự hài hòa, kham nhẫn rắn chắc mà cao quý không thể lường.

Một khi phiền não đã được chuyển hóa toàn diện, ta có thể nhận diện được Tịnh độ của nhiều vị Phật. Tất cả những gì được nhận diện theo sự tưởng tượng, đối với người chưa giác ngộ như chúng ta, mọi hiện hữu được biến thành chênh lệch, thấp cao, đẹp xấu, v.v… do vì bản chất mất thăng bằng của dòng Ý tâm bất an định, nên Tịnh độ không thể nào hiển hiện dưới tầm nhìn của thế giới “nhị nguyên’ đối đãi.

Có phải đây là nguyên nhân chính, mà những hành giả không trực nhận được bản chất Không Tự Tánh của vạn hữu, mà muốn xa lánh những cái gì họ cảm nhận là ô uế, phiền trược để đi về Tịnh độ chăng?

Đại Bồ Tát:  Ratnapani.

Bồ Tát Ratnapani, như ngài Bồ Tát Quán Thế Âm ở Tịnh Độ Sukhavati – Cực Lạc A Di Đà Phật, ngài hóa thân vô số, cứu thoát chúng sanh có duyên lành được chín muồi để có thể hóa sanh về nơi Tịnh độ này.

Chủng tự: Trah. Khi hành trì phép quán đảnh theo ‘Action Tantra – Hành động Tantra’ chủng tự Trah được sắp ở giữa và câu thần chú Bảo sanh (Tayatha Om Ratna sambhava Trah.)

Thực tập ứng tưởng Phật Bảo Sanh Như Lai, với câu thần chú này và biểu tượng vàng ròng rực rỡ lúc hành trì công phu thời khóa, phối hợp với bốn năng lượng thực hành bốn cam kết như sau, ta sẽ thỏa mãn được tất cả những mong cầu, từ đời này đến nhiều kiếp tái sanh khác.

Thủ ấn: Bàn tay trái thủ ấn Cát tường, tay phải thủ ấn Ban thí, trong tư thế kiết già – Kim Cang tọa.

Thời gian: Mùa Thu.

Đối với tự nhiên giới, sự xinh tươi khoe sắc và cương mãnh của “xuân sanh, hạ trưởng” đã bắt đầu chuyển qua gian đoạn “Thu liễm”.Thu liễm là chỉ cho vạn vật đã bắt đầu dừng lại và thẩm thấu vào chiều sâu của chính chúng, giống như người đang trên đường về nhà trong một ngày làm việc cực nhọc.

Không gian: Chủ về đất, mặt bằng. 

Đối với lãnh vực tâm linh, khi hành giả niệm: Om Sobhawa Shuddha Sarwa Dharma Sobhawa Shuddho Ham (Án! Ta phạ bà phạ truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà phạ truật độ hám) tâm liền trong trạng thái ứng tưởng mọi hiện tượng thẩm thấu và tan biến về với bản chất không tự tánh của bản tâm mà hành thiền. Năng lượng Bảo Sanh Như Lai của tự tánh vốn không, giúp cho chúng ta thẩm thấu được trạng thái cảm thọ trong đại lạc của định, thênh thang như không gian vô tận. (Nhưng không phải là không gian)

Năng Lượng:

Bảo Sanh Như Lai, thuộc về cảm thọ đối với ngũ uẩn: Đối với một nhân sinh bình thường như chúng ta, cảm thọ bị tiêm nhiễm bởi những phiền não sâu đậm như: Chấp thủ, tham lam, sân hận, hờn ghen, sợ hãi, v.v… nên cảm thọ được luân chuyển qua ba trạng thái: Trung tính, khó chịu và dễ chịu trong một cường độ thái quá, hoặc không đủ, mất thăng bằng.

Ví dụ như, khi ở trạng thái trung tính, thì cảm thọ lại dong ruổi, bám víu vào những hiện tướng và hiện tưởng sanh diệt không dừng trong mỗi sát-na. Khi nằm ở trạng thái khó chịu thì ôi thôi, cảm thọ trở nên bấn loạn không cùng, đôi lúc như bầu trời xám xịt những mây đen. Còn ở trạng thái dễ chịu thì cảm thọ cũng lại bám víu chặc cứng vào đối tượng dễ chịu ấy, không buông thả, cho đến lúc nôn nao kích động không chịu nổi được tràn dâng.

Tuy nhiên, nếu năng lượng của Bảo Sanh Như Lai, được hiển hiện và ngự trị trong dòng tâm liên tục của ta, uẩn Cảm Thọ sẽ tự nhiên, biến thành một trạng thái bình đẳng và đại lạc.

Niềm đại lạc này sẽ được phối hợp với sự nhận diện cao tột của thực tướng vạn pháp –Tánh không. Sau cùng, trở thành cửa ngõ đích thực đi vào đạo lộ vô học, hay còn gọi là vô sư trí. Nếu cảm thọ đại lạc được hiển hiện mà không có năng lực của tánh không, tức thì, đại lạc sẽ biến thành kích động trong dòng tâm.

Bốn Cam Kết của nhà Bảo Sanh như Lai nên được thực hành như thế nầy: Tương tự như một Độ trong Lục Độ Bồ Tát, từ nay cho đến ngày giác ngộ luôn được thực tập bốn điều sau:

  1. Bố thí tài vật
  2. Bố thí Pháp
  3. Bố thí Lòng thương yêu vô điều kiện
  4. Bố thí sự an lạc, không sợ hãi.

1. Bố thí tài vật:

Tác dụng của hành động Bố thí tài vật, sẽ làm cho công hạnh từ bỏ sự chấp thủ về những hiện tướng hư ảo và hiện tượng nhầm lẫn; mà sáu căn có thể cảm nhận được. Càng chấp thủ vào những hiện tướng và hiện tưởng càng nhiều, thì sự nhận diện chân thật tướng của vạn hữu sẽ càng bị hỏng, vì tiềm năng của hiện tưởng sai lạc che mờ tánh trí.

Lúc thực hành tài thí, ta cần vận dụng khả năng hiểu biết về đối tượng ta bố thí. Những đối tượng vì số đông người, ví dụ như Bệnh viện, Tự viện của các tu sĩ, những Hội từ thiện đại diện cho các nạn nhân đói khổ, cho một ít đồ ăn thừa cho một súc sanh, cứu giúp ngay những loài côn trùng đang trong cơn nguy hiểm, v.v… 

Khi bố thí là bố thí, không nên có những hậu ý gì khác, cho người nghèo khổ một món quà buộc họ phải làm một điều gì theo ý tưởng của mình, là điều không nên làm.

2. Bố thí Pháp:

Không có hạnh phúc và phước đức nào được tiềm tàng mãnh liệt ở dòng tâm hơn là bố thí Pháp. Trong lúc bố thí Pháp, dòng ý tâm ta cũng được thấm nhuần sâu hơn về thần dược của Pháp. Nó có khả năng tháo gỡ sự khổ đau của chính ta và mỗi một ai có cơ hội gặp được chánh Pháp.Trong thân và tâm thức thô phù này lại dung chứa một dòng chảy liên tục của thân và tâm vi tế của Phật một khi được khơi động bởi Pháp Phật. Cố nhiên, người cho và người nhận đều luôn được lợi lạc. Tùy theo hoàn cảnh và trường hợp, ta không cố bám víu và câu nệ vào hình thức để cho người nhận Pháp biết ta là người đang bố thí Pháp Phật. Chủ đích là làm cho sự an định, hạnh phúc của người được bố thí hiển hiện.

3. Bố thí Lòng yêu thương vô điều kiện:

Lòng yêu thương vô điều kiện được hiểu là tình yêu trang trọng. Một sanh linh bình thường luôn cần sự yêu thương chân thật, vô điều kiện. Vì tình yêu này là nguồn năng lượng cho cuộc sống, chỉ có điều khi niềm yêu thương hiện lên thì tâm hành chấp thủ cũng hiện diện ngay. Tâm hành chấp thủ ấy làm vẩn đục đi tình yêu thương, đôi lúc làm cho tình yêu thương trở thành sự bất bình và thù địch. Một người đang chơi vơi trong sự thất vọng hay một trong những phiền não nào ấy, nếu được ta dùng lòng yêu thương mà tiếp xử và ban thí cho họ. Một súc sanh đang bị sát hại, ta không làm gì được, nhưng tối thiểu ta cũng có thể động lòng yêu thương đến với con súc sanh ấy. Biết đâu, khi năng lượng yêu thương của ta được đầy đủ sức mạnh, súc sanh đang bị sát hại sẽ không bị tái sanh làm súc sanh nữa. Tất cả loài hữu tình không những chỉ sống một kiếp sống thôi, mà còn rất nhiều kiếp ở tương lai, đừng bị tiêu cực trong thụ động, mà cho không làm gì được. Vả lại, hành động của Ý tâm luôn là hành động mạnh nhất so với hành động của lời nói và việc làm bằng cơ thể.

4. Bố thí sự an lạc không sợ hãi:

Một con côn trùng như sâu bọ, kiến hay nhện, v.v… đang trong tình trạng sợ hãi, ta tìm cách cứu chúng ra khỏi ngay được sự sợ hãi ấy. Một người bạn thân trong tình trạng khổ đau, với một tâm lượng vô tư, không hậu ý được lợi dưỡng về mình, ta cho lời an ủi, giúp sức cho họ có đủ nghị lực mà vượt qua, đây là những điều rất thiết thực mà có thể thực hành.

Mỗi ngày ta thực tập bốn Cam Kết này một cách tinh chuyên, công hạnh của Bồ Tát sẽ chóng đạt tiêu chuẩn lớn, quan lộ của Bồ Tát sẽ thênh thang và mầu nhiệm hơn. Tâm thức của chúng ta tự nhiên sẽ được trải nghiệm về niềm hạnh phúc rất sâu sắc, qua tất cả các hành động hàng ngày. Niềm hạnh phúc ấy, sẽ làm nhân cho cảm thọ uẩn biến thành Bình đẳng tánh trí – the Equality wisdom, hiển lộ trong mỗi hành tác thường nhật của chúng ta!

Bình đẳng tánh trí là: Trí tuệ hiểu rõ sự bình đẳng của tất cả vạn hữu, mặc dầu có sự khác biệt về hình tướng bên ngoài.

Bình đẳng tánh trí cũng là bước đầu của sự trực ngộ về tánh Không.

4. Vô Lượng Quang A Di Đà Như Lai: (Amitabha Buddha)

Màu sắc:  Đỏ

Trong Mật Tông, màu đỏ biểu trưng cho lời nói của chư Phật ba đời, có tác dụng tháo gỡ và nuôi dưỡng chính khí của sự truyền thông trong tinh thần hóa giải đi những tư duy tiêu cực. Có lẽ vì thế mà Tổ Sư Huệ Viễn đưa ra pháp môn “trì danh niệm Phật” để cho người thiếu may mắn, không nắm được cốt tủy của đạo phật, (tức là không biết cách thực hành thiền quán về tánh Không), có được cơ hội làm cho dòng tâm liên tục của mình tích luỹ một điều cực thiện, trong khi đó, đức Phật A Di Đà chính là vị Phật đại diện cho lời nói của mười phương chư Phật ba đời, điều này thật là thú vị, khi ta tư duy cho sâu sắc, cho nên những vị họa sĩ nên họa tượng A Di Đà màu đỏ mới đúng ý nghĩa vậy.

Trong phép Du Già Tôn Sư, khi ta ứng tưởng màu đỏ ở ngang tầm yết hầu, để làm cho yết hầu mở ra một sinh lộ đặc biệt, một nghiệp nhân cực lành, làm môi giới cho kết quả về “Pháp âm vi diệu” trong hiện tại và nhiều kiếp tái sanh cho việc thuyết Pháp độ sanh.

Trong tự nhiên giới, nếu ta có kính hiển vi mà thấy những tia cực nhỏ của màu đỏ, ta sẽ thấy tác dụng của nó làm cho cây cỏ được xinh tươi và chín muồi đúng mức, năng lượng mặt trời là một biểu tượng rất chuẩn xác và tối cần cho mọi hiện hữu trên quả địa cầu này.

Phương hướng: Thuộc hướng Tây

Tinh khí của vũ trụ, một khi đã phù việt lên như lời nói hùng tráng của một vị đại hùng, đại lực đại từ bi – Phật, thì tất cả những ưu phiền tối tăm sẽ tự nhiên chuyển hóa hết sạch.

Vì vậy khi làm phép gia trì cho một người đã quá vãng, chúng ta chỉ cần nhất tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm, hoặc câu thần chú Quán Thế Âm – Om Mani Pemi Hum, đồng lúc ứng tưởng chủng tự Hrih hay một hoa sen đỏ rực tại lồng ngực mình. Tâm thức của người quá cố đó sẽ được đồng nhịp ngay, mà xóa tan đi bao sự khổ đau và tối tăm trong chính họ, để rồi, sự an lạc trong giây phút ấy, sẽ làm cho người quá vãng có cơ hội rất nhiều, mà hội nhập vào dòng Pháp thân, Dharmakaya vậy.

Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc Sukhavati: Đại Bồ Tát tiếp độ: Avalokiteshvara – Quán Thế Âm.

Bên Mật Tông tin rằng, khi một chúng sanh có duyên và đầy đủ tiêu chuẩn được thoát sanh về Tịnh Độ Sukhavati – Tây Phương Cực Lạc, Đức Quán Thế âm sẽ đích thân phóng quang tiếp độ cho tâm thức của người ấy chuyển di và hội nhập vào cái mão của ngài mà về Tịnh Độ. Khi làm phép gia trì cho người mới mất cũng thế, cả buổi gia trì ấy đều được ứng tưởng theo một sự hướng dẫn đúng tiêu chuẩn về ba năng lực: Ý tâm, lời và thân; về Bổn Tôn Đại Bi Quán Thế Âm, để người mất được thoát sanh ngay.

Sự ồn náo được chen lẫn với sự hướng dẫn phức tạp về cung cách lễ nghi rườm rà, không hội đủ sự hiểu biết sâu sắc của chánh Pháp trong lúc “tiếp dẫn”, sẽ có thể làm cho người sắp mất phải bị chế ngự bởi phiền não, thì thật là tội nghiệp!

Không gian:

Biểu tượng của hoa sen tinh khiết, chuyển hóa đi sự dơ dáy cấu nhiễm của phiền não chấp thủ hờn ghen và ích kỷ, thành sự dung hoà độ lượng như cánh sen vươn lên từ bùn lầy.

Chủng tự: Hrih.

Tất cả mọi hiện tượng trước khi biểu hiện hóa từ bản chất Không Tự Tánh, đều trải qua một chu kỳ biến thiên để “trở thành”. Tâm và thân Phật chẳng hạn, khi ở trạng thái Dharmakaya – Pháp Thân, thì một người hay chúng sanh tầm thường không thể nào nhận biết được, chỉ khi nào Phật thị hiện bằng Thọ dụng thân hay Hóa thân, thì lúc ấy tùy theo nghiệp lực của mỗi chúng sanh mà nhận diện được.

Chủng tự Hrhi cho ta một cơ hội để ứng tưởng trong bước đầu, khi ta muốn ứng tưởng sắc thân của Đại Bi Quán Thế Âm hay đức Phật A Di Đà, đây là phương pháp đặc biệt của Mật Tông. Phương pháp này rất là thuận hợp với tự nhiên giới, hay nói khác hơn là rất khoa học.

Ấn thủ: Đức Di Đà khi ngồi hai tay trong tư thế thủ ấn cát tường, có bình cam lồ đầy thuốc trường sanh.

Hoặc khi đứng: Ngài đưa tay mặt ngửa xuống trước, trong khi ấy tay trái bưng bình thuốc cam lộ trường thọ, chỉ cho hành động tiếp độ chúng sanh thoát khỏi thống khổ về sanh già bệnh chết.

Thời gian: Mùa Hè, mùa của trăm hoa khoe sắc, nghìn cành tươi sáng lung linh, một trạng thái vô cùng hưng phấn trong niềm hoan hỷ vô biên.

Năng lượng:

Khi hội đủ tiêu chuẩn về thực hành ba cam kết của nhà Như Lai này, mỗi lỗ chân lông của chúng ta sẽ trở thành một năng lượng ngang tầm với một vị Tỳ kheo đã đắc Pháp. Vì nhà Như Lai này thuộc về Sắc uẩn.

Năng lực này sẽ phá tan tất cả những cấu nhiễm từ vô thỉ kiếp trong luân sanh, tương tự như mười hai ánh sáng vi diệu của đức Phật A Di Đà vậy.

Vi Diệu quang này, chỉ có thể nhận diện được khi ta đã đạt đến Đạo và Địa của một vị Đại Bồ Tát. Còn thông thường, chúng ta chỉ hình dung bằng Ý tâm, chưa đủ để có thể thấu hiểu một cách thực tiễn và sâu sắc được.

Cam Kết:

Có ba cam kết, ba Cam Kết thực tập thuộc nhà Như Lai Vô Lượng Quang A Di Đà:

  •  Tin cậy sâu sắc và hành trì kinh điển
  • Tin cậy sâu sắc và hành trì hai loại Mật điển sơ cấp
  •  Tin cậy sâu sắc và hành trì hai loại Mật điển tối cao.

1. Tin cậy sâu sắc và hành trì Kinh điển:

Trước tiên, trong dòng Ý tâm của hành giả phải được sự tin tưởng tuyệt đối chín muồi, làm môi giới cho sự phát khởi để hành trì. Tiếp theo là hạ thủ công phu trong sự cảm nhận thực tiễn về phép hành trì của mình. Đây gọi là ‘tin cậy sâu sắc’. Nếu chúng may mắn có được một bậc Tôn sư tuyệt hảo, thì thời gian để nghiên cứu về Kinh điển của riêng ta sẽ đỡ tốn hơn, vì bốn mươi năm thuyết pháp của Phật Bổn Sư Thích Ca được tóm tắc và cốt tủy hóa, để ta chỉ miệt mài thực hành và ân hưởng sự đại lạc hiển hiện trong lúc hành trì thôi. Vì vậy đối với Tông môn của Mật Tông có trong bài Sám Nguyện Tôn Sư với câu khởi đầu:

Cho con được hiểu rằng         Lòng tôn kính ân sư

Nền móng mọi thiện nghiệp    Là gốc nguồn của Đạo…

2. Tin cậy sâu sắc và hành trì hai loại Mật điển sơ cấp:

Khi cảm nhận được lòng tin kiên định trong dòng tâm liên tục, ta bắt đầu hành trì tinh chuyên hai loại mật điển sơ cấp, đó là: Hành động Tantra và Du già Tantra.

Hành động Tantra của Mật pháp, là miệng tụng thần chú thuộc về Bổn tôn nào mà mình cảm thấy gần gũi nhất, ví dụ như đức Avalokiteshvara – đức Đại Bi Quán Thế Âm, ‘Om Mani Pemi Hum’, tâm mình thật chuyên chú và thiết tha theo lời tụng, đồng lúc ứng tưởng sự hiện diện của Bổn Tôn, trong lồng ngực mình, trên đỉnh đầu mình, hoặc trước mặt mình. Thân chúng ta hoặc ngồi chấp tay, hoặc đứng cho thật đoan trang. Như vậy, thì tam nghiệp: thân, khẩu và ý được hợp nhất trong buổi hành trì về Hành động Tantra.

Du Già Tantra, cũng tương tự như Hành động Tantra, nhưng thay vì ứng tưởng Bổn tôn đang hiện diện trên đỉnh đầu, trong lồng ngực hoặc trước mặt mình, thì ta ứng tưởng chính mình là Bổn Tôn, toàn thân mình lúc bấy giờ chính là Bổn Tôn. Điều này cần phải có được một vị Du Già Sư đủ tiêu chuẩn làm lễ điểm đạo và tấn dẫn nghiêm túc trước mới hội đủ tiêu chuẩn.

3. Tin cậy sâu sắc và hành trì hai loại Mật điển tối cao.

Một khi có được cơ duyên, thực hành Du Già Tantra, lòng tin đối với con đường tâm linh ta đi sẽ rất kiên định, ta bắt đầu tạo cơ hội để có thể gặp được vị Du Già Sư đủ tiêu chuẩn, cầu xin được làm lễ điểm đạo cho ta về hai loại Mật điển tối cao. Ba hệ phái của Mật điển Du già tối cao, đều thực tập theo sự lựa chọn và truyền dạy của bậc Tôn Sư điểm đạo. Ví dụ như, hệ Du Già tối cao Heruka được truyền dạy để thực tập một trong hai loại: Hoặc là Vajrayogini hoặc Heruka, thực tập một trong hai loại này, sẽ được kết quả giống nhau.Vajrayogini biểu trưng cho Trí tuệ tánh không, thuộc về âm, trong lúc đó Heruka thuộc về dương và biểu trưng cho Đại hỷ lạc. Bản tâm vi tế (Dharmakaya) này khi hiển hiện lên hình tượng Heruka mười hai tay, màu xanh đậm của đại dương, ôm chầm lấy Vajrayogini hai tay, màu đỏ rực.

Hình ảnh này đối với truyền thừa của Kinh, từ Tiểu Thừa cho đến Đại Thừa (Không thuộc về Mật Tông) đều không thể chấp nhận được, vì hình ảnh này có tánh cách dâm dục và ma quỷ. Nhưng chỉ có người thực tập Mật điển tối cao và đã đạt được một lượng từ bi cũng như thâm nhập được tánh không một cách khả dĩ, mới có thể hiểu nổi về tính chất của sự hợp nhất giữa Tánh KhôngĐại hỷ lạc, (tức là bước đầu của Dharmakaya hiển hiện) mà ra.

Hơn nữa, đối với hành giả Mật Tông, người đã đạt được ba sự dẫn nhập của thiền Mật Tông tối cao, thì hình ảnh này không phải là thứ dâm dục, ma quái thường tình, xằng bậy, như người thô thiển chấp trước vào hiện tướng và hiện tưởng sai lạc mà ra.

Hình ảnh hợp nhất của Heruka và Vajrayogini này, không những chỉ hàm chứa và nhắc nhở về sự hợp nhất dung thông giữa chân đếtục đế trong trạng thái đại hỷ lạctánh không, mà còn là một biểu tượng diệu dụng và biến thiên vô cùng tận của tiềm năng Phật tánh, trong mỗi loài hữu tình và vô tình vậy.

Tóm lại, khi ba cam kết này được thực tập tinh chuyên, cùng sự phối hợp chặt chẽ với bốn nhà Như Lai khác, đặc biệt là Đại Nhật Như Lai. Sắc thân trong năm uẩn của chúng ta sẽ biến hóa thành một phần của Sắc thân A Di Đà. Trong Kim Cang thừa gọi là “Kim Cang Ảo Diệu Định”, vì mỗi khi hành giả nhập đại định này, ánh sáng từ bi và trí tuệ phát ra vô cùng ảo diệu, tương tự như mười hai luồng hào quang của sắc thân đức Phật A Di Đà.

Tác dụng của Ý tâm lúc này trở thành một loại năng lượng trí tuệ gọi là: Diệu Quán Sát trí – (Discrimination wisdom) Trí tuệ nhận biết rõ ràng tường tận từng cá thể của mọi vật, không có sự nhầm lẫn. Mọi vật ở đây không những chỉ hạn hẹp vào thế giới Ta Bà này, nhưng còn có diệu dụng đối với các cõi khác và chúng sanh trong các cõi khác ấy, nên gọi là Diệu Quan sát.

5. Thành Tựu Như Lai (Bất Không Thành Tựu Như Lai) (Amoghasiddhi Buddha).

Màu sắc: Xanh lá cây

Ta có thể tư duy: Mọi vật đang vươn mình trong nắng mới, là biểu tượng cho một chu kỳ của một hiện tướng của mọi hiện hữu đang nẩy nở như mùa Xuân với màu sắc Xanh lá cây.

Trong Mật Tông có vị Phật Green Tara, (thường được hiểu là Phật Mẫu Chuẩn Đề) ngài hiển hiện lên với sắc thân của người nữ, chủ về đầu mối của sự sanh trưởng linh khí để có thể quét sạch đi bao chướng duyên, phiền não từ thân cho đến dòng ý tâm của tất cả chúng hữu tình một cách linh động và dịu dàng.

Phương hướng: Bắc phương

Bản chất về phương bắc là thâm sâu không lường, lặng lẽ yên lành trong tư thế tự làm chủ chính mình, nếu ta nhìn sâu vào màu xanh của đại dương trầm hùng nơi biển Bắc, chúng ta sẽ cảm nhận được điều đó.

Thời gian: Mùa Thu, ở đây chỉ cho sự thẩm thấu vào bản tâm, bản chất của bản tâm là tiềm ẩn liên tục không gián đoạn.Vì thế nên thâm tín vào nhà Bất Không Thành Tựu Như Lai tức là tin sâu vào sự tiềm tàng của dòng giống Phật, tin sâu vào khả năng tiềm tàng của chính mình; có khả năng thành Phật.

Không gian:

Nếu ta biết quán chiếu mọi hiện tượng vốn Không tự tánh như không gian thênh thang, (Như không gian, chứ không phải là không gian.) sự vướng mắc về các hiện tướng và hiện tưởng sẽ yếu dần đi, giúp cho định lực ‘Kim Cang Ảo Diệu Định’ mỗi ngày một thâm hậu hơn, từ đó niềm đại lạc cũng sẽ hiện dần trong ta, bổ ích vô cùng tận cho việc thực tập Bồ Tát hạnh hàng ngày.

Chủng tự:  Ah.

Biểu tượng cho kim cang bất hoại của bậc đại toàn giác. Tống thể của ba thân Phật, (Ứng hóa thân, Thọ dụng hay Báo thân và Pháp thân Phật.) người tu Mật Tông coi trọng chủng tự này, vì chủng tự này chính là tổng thể của vô lượng hóa thân Phật, cho nên khi ứng tưởng và thiền định trên chủng tư Ah, tức là đang trong trạng thái tâm niệm về vô lượng thân Phật vậy.

Thủ ấn: Hình dạng của Phật Bất Không Thành Tựu với bàn tay trái bắt ấn kiết tường, tay phải dựng lên thành ấn ban thí sự hộ trì. Thân ngài có màu sắc xanh tím – màu dung hợp giữa xanh lá cây, xanh đậm của biển và màu vàng.

Tịnh Độ: Mang tên Prakuta Tịnh độ này thường phát lên ánh sáng ngũ sắc, chiếu phá sự tối tăm của thế giới A-tu-la, chuyển hóa tất cả những tâm hành đen tối phức tạp trong mỗi chúng sanh do sáu phiền não gốc như (Si mê chấp thủ, sân hận, ngã mạng và tà kiến.)

Đại Bồ Tát:  Đại Bồ Tát tiếp độ: Visvapani

Khi ta được làm lễ điểm đạo, hành trì phương pháp Visvapani tức là phương pháp khơi động tiềm năng tịnh độ Prakuta trong tâm ta, tất cả những ác lực do phiền não phức tạp sẽ tan biến và chừa lại sự an lạc như không gian thênh thang, đây cũng là diệu dụng của đại Bồ Tát Visvapani thuộc tịnh độ này.

Năng lượng: Chủ về Hành trong năm uẩn, hai lãnh vực của hành. Tiềm năng của ác nghiệp và sự hiển hiện của ác lực sẽ được chuyển hóa thành sự diệu dụng vô cùng tận để có thể giáo hóa chúng sanh. Nên khi thành tựu được hai cam kết của nhà Như Lai này, dòng tâm liên tục của ta sẽ biến thành: Thành Tựu Pháp Trí.

Cam Kết: Thực tập nhà Bất Không Thành Tựu Như Lai, gồm có hai Cam Kết:

  • Cúng dường Tôn sư
  • Hành trì miên mật những giới đã thọ.

1. Cúng dường Tôn Sư:

Cúng dường Tôn Sư bao hàm một ý nghĩa rộng, ở đây ta có thể tóm tắt trong hai lãnh vực: Về vật chất, ta dùng hết khả năng để có thể phục vụ cho Tôn Sư trong công việc hoằng dương chánh pháp, ví như tiền tài, góp công sức từ việc nhỏ đến việc lớn tùy theo hoàn cảnh với khả năng của mình và nhu cầu của Tôn Sư. Trên phương diện tâm linh, ta nghiêm cẩn áp dụng lời Tôn Sư dạy vào đời sống hàng ngày, ta phải chiêm nghiệm và nhận diện Tôn Sư là hóa thân của chư Phật và Bồ Tát, để có thể áp dụng lời dạy của người một cách chí thành và triệt để, đây là sự cúng dường tối thắng nhất đối với tôn sư. Một tôn sư chân chính, không có một nhu cầu nào khác và quan trọng hơn là luôn mong muốn người đệ tử áp dụng lời dạy của chư Phật qua sự trùng tuyên khéo léo của mình.

2. Hành trì miên mật những giới đã thọ: (Biệt giải thoát, Bồ Tát và Mật giới)

Biệt giải thoát giới có ba loại chính:  Biệt giải thoát cơ bản giới của người tại gia, biệt giải thoát giới cho người xuất gia nam và biệt giải thoát giới cho người xuất gia nữ. Tác dụng cơ bản của ba loại Biệt giải thoát giới, ví như cái nền của một ngôi lâu đài, mặt bằng của quỹ đạo sân bay, như một áo giáp tốt để người chiến sĩ xông pha nơi chiến trường, đặc biệt là người chiến sĩ xông pha, trong lãnh thổ của phiền não địch ở nội tâm!

Nếu là người đã thọ Bồ Tát giới hay Mật giới, thì nên mừng rằng: Ta đã có đủ cơ duyên rút ngắn con đường tâm linh của ta đến đích nhanh hơn. Tuy nhiên, ta cần thận trọng và nỗ lực nhiều hơn trong công trình thực tập, không có một loại cam kết nào, mà không tốn công sức để đạt đến mục đích.

Khi hai cam kết này, nếu được thực tập toàn hảo và phối hợp với bốn nhà Như Lai khác, đặc biệt là Bảo Sanh Như lai, sự sợ hãi, ghen hờn và ganh tỵ sẽ được chuyển hóa toàn diện. Trong Kim Cang thừa, có ký hiệu hai chày Kim Cang nối kết lại với nhau theo hình chữ thập, là biểu tượng của hai phiền não, sợ hãi và ghen tỵ, đã được hoàn toàn chuyển hóa thành một loại trí tuệ vững chắc, gọi là: Thành sở tác trí, hay còn gọi là: Thành tựu pháp trí – the Accomplished wisdom.

Trí tuệ đưa đến một năng lực thành tựu tất cả thiện pháp cho chính mình và cho chúng hữu tình.

(hết)

 

Du Già Sư Thích Tịnh Thông

             (Soạn xong ngày 1/4/ 2015 London)

(nguồn: Tri Thức Phật Giáo số 15, 2015, tr. 19-34)

 

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên