Chúng ta cần thực tập mười chín (19) Cam Kết của Năm Nhà Như Lai. Khi hội đủ tiêu chuẩn của mười chín (19) Cam Kết về Năm Nhà Như Lai này rồi, ta sẽ tự nhiên được vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai, như trong Kinh Pháp Hoa phẩm Pháp Sư, thứ 10 Phật thuyết.

Tưởng cũng nên tư duy về lời dạy trên, để ta có thể hiểu và thực hành pháp một cách sâu sắc hơn.

Người được “Vào nhà Như Lai là người có từ bi tâm lớn đối với tất cả chúng sanh.”   Tâm yêu thương vô điều kiện, vô biên cương đối với tất cả chúng hữu tình, người có một chí nguyện cao vút do lòng từ bi làm nền móng và thôi thúc, để đưa đến hành động bổ ích cho mỗi chúng hữu tình.

Người “Mặc Y Như Lai là người có lòng nhu hòa nhẫn nhục.”

Lòng nhu hòa ở đây, ám chỉ cho tâm bình đẳng, không chừa một ai, không phân biệt nghèo hèn hay sang cả.

Thông thường, khi ta thấy một người hoạn nạn ta liền có lòng thương. Nhưng khi gặp người sang cả lại có ác tâm, ta khó có lòng thương thật sự với họ.

Cũng thế, ta có thể tôn kính bậc Hiền thánh, nhưng khó có được lòng tôn kính người bình thường, hay người mang tội lỗi. Chưa dám nói đến những hành động phỉ báng nữa là khác!

Người nào thuộc gia đình và dòng họ ta, ta có thể tôn kính, hay ban thí những gì cần ban thí. Nhưng đối với người không phải là gia đình dòng họ của ta, ta khó thực sự có một tấm lòng ban bố. 

Tâm kỳ thị phân biệt trong sự cảm nhận như vậy, là tâm không bình đẳng, không nhu hòa.

Nhẫn nhục ở đây, ý nói người đang thực hành Lục Độ Ba La Mật-đang vững bước trên đạo lộ Đại thừa của Bồ Tát và chư Phật.

Trong Giới Bồ Tát của Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát có dạy: Người không biết cách kiềm chế để chuyển hóa sự sân hận. Không nhận lỗi và tha thứ người đã xúc phạm đến mình.  Không sám hối và xin lỗi khi mình đã xúc phạm đến người khác. Cố ý nuôi dưỡng lòng trả thù.

Ba điều này, nếu không hành trì mà chuyển hoá được, thì người không có lòng nhẫn nhục đích thực.

Đã như thế, khi nhìn bề ngoài, dầu có mặc y áo giống Như Lai, ở tịnh xá Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Nhưng tâm không đủ năng lượng của Từ bi vô biên cương, không đủ tính chất nhu hòa và nhẫn nhục nêu trên, thì không thể và không đủ tiêu chuẩn để xứng đáng là người được vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai vậy.

Người “Ngồi tòa Như Lai là người biết an trụ trong tánh Không của tất cả Pháp.” Ý nói về sự tự tánh vốn Không, hay còn gọi: Thực tướng của vạn pháp. Trực nhận được thực tướng của vạn pháp-tánh Không, để có thể giáo hóa chúng sanh một cách hữu hiệu, để có thể biến những hành tác bình thường trong mỗi ngày thành Phật sự đích thực, như chư vị đại Bồ Tát và Phật. 

Nếu người không biết dụng tâm Không, để tuyên thuyết những pháp muôn Phật dạy, kể cả pháp môn Tịnh Độ, thì người ấy vẫn chưa thể đích thực xem là người có đủ tiêu chuẩn để Ngồi Tòa Như Lai, mà giáo hóa, vì Bản Chất Tịnh Độ của chư Phật vốn Không có Tự Tánh.

  1. ĐẠI NHẬT NHƯ LAI: (Tỳ Lô Giá Na-Vairochana Buddha)

      Màu sắc: Thuộc màu trắng:

Biểu tượng cho sự trong suốt, thanh tịnh, không vướng mắc vào bất cứ một hiện tướng và hiện tưởng nào.

Phương hướng:  Thuộc về trung Ương:

Trung tâm điểm thống lãnh và làm giềng mối cho tất cả các năng lực hữu hình hoặc vô hình, được hiển hiện xuyên suốt lên vạn hữu.

Thời gian: Bốn mùa luân chuyển-Biểu tượng bằng bánh xe Pháp, được gọi là: Pháp giới bổn tánh trí. Thời gian lưu chuyển trong bốn mùa được chủ động bởi Pháp giới bổn tánh trí.

Không gian: Chủ về dung chứa vô lượng công xuất của giáo pháp không ngằn mé:

Công suất này, đối với chư vị Du Già Sư đã giác ngộ, vô cùng thiết yếu cho hạnh cứu giúp chúng hữu tình đang cần sự trợ giúp. Từ tâm lượng Không tự tánh, họ sẽ tạo tác lên tất cả các hành động kỳ diệu, mà người thường gọi là: “Diệu dụng thần thông không chướng ngại.

Chủng tự: Thuộc chữ Om:

Chủng tự Om này là biểu tượng trước tiên cho Pháp Thân Phật một khi đã hiển hiện lên Thọ Dụng Thân và Hóa Thân, để có thể giáo hóa chúng sanh một cách hữu hiệu. Người tu luyện Tiên đạo rất xem trọng âm lượng Om, vì nó có tác dụng kích động lửa của Đan điền và làm tan biến đi những điểm chướng ngại trong vòng Chính Kinh của cơ thể, hay còn gọi là vòng: Châu Thiên, một khi vòng châu thiên được hưng phấn và thông suốt, cơ thể bình thường có thể đưa ra một sức mạnh tương đối, mà người thường không thể có được. Ví dụ, như những đòn biểu diễn của võ Tăng Thiếu Lâm Tự đương thời, là biểu hiện của vòng châu thiên được thông suốt và hưng phấn hóa.

Đối với Kim Cang Thừa, Chính kinh này là một trợ lực vô hình đưa Ý tâm về Tạng và Gốc tâm một cách có Chánh niệm trong lúc thiền quán về tánh Không, trong cơn Kim Cang Định hoặc giấc ngủ.

Thủ ấn:  Cát tường ấn:

Bàn tay mặt nằm trên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau, thành hình tam giác chỉ thiên. Đầu nhọn của hai ngón cái, biểu tượng cho trung ương phương hướng, hay còn ám chỉ cho sự chánh niệm về Chính kinh. Khi ta thực hành Kim Cang thiền định theo phương pháp thiền định chỉ, thuộc Kim Cang mật pháp hệ phái Heruka và Vajrayogini, tâm được an định một cách vững chải là nhờ nội khí của các kinh lạc trong người tập trung và phối hợp về một mối, đó là Chính kinh ở trung ương của cơ thể như trên đã đề cập vậy.

Có khi thấy hai tay giáp lại như hình quả núi, ngón trỏ chỉ lên không trung-Ký hiệu Ý tâm thẩm thấu vào Chính kinh mà đi về Tạng và Gốc tâm, nó còn là ký hiệu của không gian vô biên, có công suất vô lượng xoay chuyển chánh Pháp.

Tịnh Độ: Trung ương Akanista:

Tịnh độ thuộc Đại Nhật Kim Cang có tên là A-ca-níst-ta. Ta nhận thấy rằng, khi ta học Phật Pháp cho đầy đủ, thì Tịnh Độ không chỉ có một tịnh độ Sukhavati của Đức Phật A Di Đà thôi, mà còn có vô số tịnh độ của Chư Phật. Chỉ có điều tâm ta có đủ tiêu chuẩn để tái sanh về một tịnh độ nào mà mình muốn hay không mà thôi!

Đại Bồ Tát:  Thủ trì tịnh độ này là ngài Samatabhadra (Đại Bồ Tát Phổ Hiền)

Theo Kim Cang thừa, khi ta cầu siêu cho một người nào đó được gọi là pháp: “Trợ lực chuyển di tâm thức”, tất cả buổi cầu siêu ấy được hành trì theo phương pháp sám nguyện, kỳ nguyện và cuối cùng ứng tưởng lực; với vị Đại Bồ Tát thủ trì tịnh độ đó mà di chuyển tâm thức của người đã mất về tịnh độ đó.

Ví dụ ở đây, nếu ta thấy được người lúc còn sống hành trì sáu cam kết của Đại Nhật Như Lai tinh chuyên, và người ấy muốn về tịnh độ A-ca-nít-ta nêu trên, thì pháp ứng tưởng phải là ngài: Phổ Hiền Hạnh Nguyện, đưa tâm thức của người ấy về tịnh độ này.

Tịnh độ Sukhavati-Cực Lạc, của đức A Di Đà chẳng hạn, thì đức Đại Bồ Tát Quán Thế Âm-Avalokiteshvara, được làm phép ứng tưởng đưa tâm thức của người mất nào ấy, về tịnh độ Cực Lạc A Di Đà, vì ngài Quán Thế Âm là Thủ trì Đại Bồ Tát ở tịnh độ Cực Lạc ấy vậy.

Năng lượng: Đại Nhật Như lai, thuộc về Thức uẩn trong năm uẩn. (Sắc, thọ, tưởng, hànhthức.).

Thông thường, dòng tâm của ta luôn bị thời gian và không gian khống chế trong các phiền não như: Ngã mạn, chấp thủ, tham lam, sân hận, nghi kỵ và tà kiến v.v… làm cho cái biết trở nên hạn hẹp trong vòng luân hồi, sanh diệt -Vô minh.

Nhưng một khi sự thực tập của ta được chín muồi và hoàn thành đầy đủ tiêu chuẩn với sáu Cam Kết, thuộc bản chất Đại Nhật Như Lai nêu ra dưới đây, tâm thức ta sẽ được toàn thiện hóa.

Lúc bấy giờ Ý tâm được thẩm thấu, hội nhập vào Tạng tâm, nội quang được tự nhiên sáng người lên một trạng thái rất đặc biệt, gọi là trí tuệ Pháp Giới Bổn Tánhthe true nature wisdom (Dharmadhatu).

Do vì năm uẩn ô nhiễm bởi chấp thủ vô minh được chuyển hóa toàn diện, nên sự nhận thức lúc bấy giờ chuyển thành Pháp giới bổn tánh trí. Pháp Giới Bổn tánh Trí, là một trong Ngũ Trí của Như Lai, nó đồng bản thể với Pháp Thân của một vị Phật.

Đại Nhật Như Lai, gồm có sáu Cam Kết:

Đối với sáu cam kết này, ta có thể lập nguyện hành trì một cách vững chắc rằng: Cho đến ngày Giác Ngộ xin luôn nguyện:

  1. Quy Y Phật.
  2. Quy Y Pháp
  3. Quy Y Tăng
  4. Dừng tất cả các việc ác từ thô đến tế.
  5. Thực tập những hạnh lành từ thô đến tế.
  6. Làm lợi lạc tất cả sanh linh theo khả năng của mình.
  1. Quy Y Phật: (Quay về nương tựa Phật, mang một ý nghĩa rất sâu sắc)

Khi ta bị đe dọa, bị hỏa hoạn, bị ốm đau. Ta nhờ cảnh sát bảo vệ, nhờ công lực chữa lửa, nhờ y sĩ chữa bệnh v.v… Nhưng trên thực tế, ta chỉ có thể được bảo vệ tạm thời thôi, giống như một tù nhân được trả tự do một thời hạn rất ngắn.

Phật là đối tượng tối cao và tuyệt đối cho ta quay về nương tựa, vì Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Phật có ngũ trí: Pháp giới bổn tánh trí, Đại viên cảnh Trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí và Thành Tựu pháp trí (có thể hiểu Thành sở tác trí.) Năm trí tuệ này phối hợp thành: Vô lậu tận trí – “Omniscent wisdom”. Ngoài ra Phật là đối tượng không bị cuốn trôi bởi vòng xoáy luân hồi sanh tử, nên Phật rất đủ tiêu chuẩn để ta quay về nương tựa, khơi động, thực tập, để hội nhập Phật tâm của chính mình. Đây, nói lên ý nghĩa tại sao khi ta đã quy y Phật, thì không cần nên quy y thiên, thần, quỷ và vật là vậy.

    2. Quy Y Pháp:

Pháp, đích thực là lời nói của Phật. Đã là đối tượng thoát ly vòng cấu nhiễm khổ đau của luân hồi, cùng với ba thân, năm trí tuệ tuyệt hảo, do một quá trình tu tập những pháp cực lành mà ra, thì không có một lý do gì mà lời nói của Phật lại không hàm chứa bản chất và công hiệu trị liệu sự khổ đau, bất bình và lẩn quẩn của mọi loài sanh linh.

Chư Tổ và Tôn sư, thường ví bản chất của pháp Phật như sữa ngọt mềm, như dung lượng diệu dược, đủ mọi chất bổ dưỡng, nên có tát dụng trị liệu tất cả những bệnh hoạn của ta và cả chúng hữu tình.

3. Quy Y Tăng:

Người có đủ các chứng bệnh, do sự khống chế bởi những “thất tình, lục dục” như chúng ta, ví như một người đang nằm trong nhà thương, rất cần bác sĩ và sự nhắc nhở, chăm sóc và giúp đỡ của y tá.

Tăng gồm có bốn sự hòa hợp: Người xuất gia nam, người xuất gia nữ, người tại gia nam và người tại gia nữ, được gọi theo danh từ Nho là “tứ chúng.”

Nếu vì một lý do nào ấy ta cho rằng: “Tôi quy y Phật, quy y Pháp, chứ không quy y Tăng…” là ta đã phạm phải một điều rất hệ trọng, đó là ta đã phỉ báng Phật, Pháp và Tăng của tự tâm mình!

Vì chấp cái Ta thật sự tồn tại vĩnh viễn của chính cá nhân mình, nên sự ưu ái những cái gì thuộc về ta cũng được thôi thúc. Vì vậy, nên ngã mạn trở nên rất cao, cho nên ngã ái cũng càng lớn. Một khi hai nguồn vô minh gốc này được lớn mạnh, nuông chiều, thì trí tuệ bình đẳng và lòng yêu thương vô điều kiện bị bít lấp, ta sẽ không thấy tánh giác tích cực của chính ta. Ôi! Thương thay cho sự vô minh chấp thủ này đã và đang tàn hoại sự an lạc chung của sanh linh vậy!

4. Dừng tất cả các việc ác từ thô đến tế:

Là người chí thành và tận tuỵ với sự thực tập các giới (Ba La Đề Mộc Xoa, Bồ Tát Giới v.v…) ta nên luôn luôn ngăn ngừa toàn diện của ác lực hiện hành, luôn kiểm soát căn bản phiền não ở nội tâm hàng ngày, ví dụ như: Vô minh, tham lam, sân hận, nghi kỵ và tà kiến, mà tìm đủ mọi cách, áp dụng giáo lý Phật đà, chuyển hóa những phiền não gốc ấy. Đây được gọi là Dừng tất cả các việc ác từ thô đến tế vậy.

5. Thực tập những hạnh lành, từ thô đến tế:

Đồng lúc với giữ giới không cố ý sát hại sanh mạng, ta quyết tâm bảo vệ sanh mạng bằng tất cả khả năng của mình. Ta không những chỉ giữ giới không trộm cướp, nhưng còn thực hiện việc ban thí cho những đối tượng cần ban thí. Ý thức được nguy hại của việc tà dâm, là đưa đến sự bấn loạn, tan vỡ cam kết của người khác và sau cùng, tâm thức bị đọa lạc vào hạng hạ liệt súc sanh. Ta quyết tâm không làm việc tà dâm, khuyến khích mọi người chấm dứt hạnh tà dâm bằng mọi cách… Đây gọi là thực tập những hạnh lành từ thô đến tế.

6. Làm lợi lạc tất cả sanh linh theo khả năng của mình:

Chí nguyện làm lợi lạc cho tất cả mọi chúng hữu tình không chừa một ai, là một chí nguyện được phát khởi từ một tâm niệm cực thiện: Ấy là luôn mong cầu mọi chúng hữu tình được hạnh phúc. Lòng yêu thương vô điều kiện này ví như gió Xuân hây hẩy giữa lưng đồi, như mặt nước hồ Thu yên lặng sóng…. mà âm ỉ, như Bồ Tát Quán Thế Âm đang ôm trọn vũ trụ sanh linh vào lòng, thương vô hạn!

(còn tiếp)

Du Già Sư Thích Tịnh Thông

(Theo: Tuyển tập Tri Thức Phật giáo, số 13, tr.15-24)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên