Sau khi chứng đạt giác ngộ tại Bồ-đề đạo tràng, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã thuyết giảng con đường giải thoát và sự an lạc nội tâm qua bài pháp đầu tiên của Ngài tại vườn Lộc uyển (Sarnath). Trong 45 năm sau đó, Ngài du hóa khắp cõi Ấn Độ, từ nơi này đến nơi khác, thuyết giảng giáo lý soi sáng nhân tâm, vì lợi ích, an lạc cho mọi người trước khi Ngài nhập Niết-bàn tại Câu-thi-na (Kushinagar) vào năm 483 trước Tây lịch.

Khoảng hai thế kỷ tiếp theo, Phật giáo Ấn Độhình thành và phát triển vững mạnh. Tiếp đến, vua A-dục (Asoka 273-232 trước Tây lịch), đại đế thứ 3 triều đại Khổng Tước (Maurya), đã tìm được niềm tin trong giáo lý Đức Phật. Ông ta chủ trương phong trào truyền bá và thuyết giảng bức thông điệp của Đức Phật ở Ấn Độvà các quốc gia lân cận. Với những nỗ lực nhiệt tình và có hệ thống của mình, đại đế A-dục đã phát triển Phật giáo thành quốc giáo. Từ đó về sau, Phật giáo chiếm ưu thế trong xã hội Ấn Độ, vào khoảng một ngàn năm, và “Một ngàn năm đó lịch sử Ấn Độ phát triển rực rỡ về mọi mặt. Danh tiếng Ấn Độ đạt đến đỉnh cao trong những thế kỷ này. Trong lãnh vực nghệ thuật, văn chương, học thuật và tâm linh, Ấn Độ đạt đến đỉnh cao không nước nào qua mặt.”[1]

Việc cử các phái đoàn truyền giáo Phật giáo đến các quốc gia khác, thấm nhuần tư tưởng “Pháp vi diệu” do A-dục khởi xướng, không giảm sút trong suốt một kỷ nguyên huy hoàng. Phật giáo được truyền đến Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, và quần đảo Malaya. Một nhánh khác được truyền qua Trung Á, và từ đó tiếp tục truyền đến Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, và Nhật Bản. Nhưng cũng có một nhánh khác được truyền đến Tây Tạng rồi vào Trung Quốc, và Mông Cổ. Như vậy tu sĩ Phật giáo đã dương cao ngọn đuốc văn minh, văn hóa Ấn Độ khắp nơi, làm cho văn hóa Ấn Độ trở thành nền văn hóa hàng đầu thế giới.

Phật giáo du nhập vào Nhật Bản

Phật giáo du nhập vào Trung Quốc đầu thế kỷ thứ I Tây lịch. Từ Trung Quốc, Phật giáo được truyền qua Triều Tiên vào năm 372 Tây lịch, và phát triển mạnh trong vòng hai thế kỷ. Các tu sĩ Triều Tiên vùng Paekche, một trong những vương quốc của Triều Tiên xưa, đã truyền Phật pháp sang Nhật Bản vào năm 552 TL. Thái tử Thánh Ðức[2] (Shotoko, 574-621 Tây lịch) là người đầu tiên ủng hộ Phật giáo mạnh mẽ ở Nhật Bản. Ngài là quan nhiếp chính của hoàng hậu Suiko. Vị Thái tử này đã xây dựng chùa Pháp Long (Hōryū-ji 法隆寺) nổi tiếng, viết chú giải một số kinh điển và vận động phong trào phổ biến Phật giáo. Thái tử Thánh Đức được so sánh ngang với đại đế A-Dục vì “Thái tử đã xiển dương Phật giáo Nhật Bản như A-Dục đã xiển dương Phật giáo Ấn độ”.

Sự phục hưng Văn hóa

Tỳ kheo Sangharashika nói:[3] “Văn hóa được xem là một phần của Phật giáo. Nó không phải là đồ trang sức trên y phục, mà là một trong những chi phần của Phật giáo. Nơi nào có Phật giáo, nơi đó có văn hóa. Phật giáo truyền đến đâu, văn hóa cũng được truyền đến đó”. Sự truyền bá Phật giáo vào Nhật Bản cũng báo trước cho sự phục hưng văn hóa. Trong vòng 80 năm của thời kỳ Nại Lương (Nara) từ năm 710 trở đi, Nại Lương là thủ đô của Nhật bản và được chuyển đến Tokyo vào năm 794, đã đánh dấu sự hưng thịnh của văn hóa cổ Nhật Bản. Thành tựu cao nhất trong giai đoạn này là tượng Phật Ðại Nhật ở Nại Lương. Hoàng đế Thánh Võ (Shomu) đã ban hành chiếu chỉ đúc tượng Phật đồng khổng lồ này vào năm 743 Tây lịch và công việc được hoàn thành vào năm 749 TL.[4] Để đúc tượng Phật này, người ta ước tính phải mất 473 tấn đồng, 288 pound vàng, 7 tấn than. Tượng Ðại Phật được thờ trong Đông Đại tự (Tōdai-ji (東大寺), Nại Lương. Bình luận về quan điểm của người Nhật đối với Phật giáo trong thời kỳ đó, Thiền sư D.T. Suzuki, một học giả vĩ đại của Nhật, nói:[5] “Phật giáo đối với họ là một nền triết học, văn hóa mới, và là nguồn năng lượng vô tận của nghệ thuật.”

Tu sĩ Phật giáo Ấn Độ ở Nhật Bản

Tu sĩ Ấn Độ đầu tiên đến Nhật Bản truyền bá Phật pháp là ngài Bồ-đề-tiên-na (Bodhisena菩提僊那), ở Madurai, nam Ấn Độ. Theo sử liệu, một tu sĩ Nhật Bản, Ngài Tazi-hi-marito đã đến Ấn Độ vào năm 723 TL để tham học Phật pháp. Ngài đã gặp ngài Bodhisena, nhà hùng biện, trước tác, học giả Phật giáo thời đó, và các ngài đã trở thành bạn thân. Sau đó, ngài Bodhisena được Hoàng đế Thánh Võ (Shōmu 聖武天皇) mời đến Nhật Bản.[6] Ngài lên thuyền sang Nhật Bản xuyên qua Nam hải, đến Nhật Bản vào năm 736. Cảm kích trước kiến thức Phật pháp của ngài, đặc biệt sự hiểu biết về kinh Phương đẳng Ðại thừa Hoa nghiêm, hoàng đế Thánh Võ mời ngài gia trì buổi lễ khai quang Ðại Phật Tỳ Lô Giá Na. Như vậy một tu sĩ Ấn Độ đã chính thức điều hành buổi lễ lịch sử trước Ðại Phật ở Nại Lương vào năm 749. Ngài Bodhisena viên tịch ở Nhật Bản vào năm 760, 57 tuổi. Xá-lợi của Ngài được tôn thờ tại chùa Đại An (Daian-ji 大安寺), Nại Lương. Ngôi chùa này hoàn toàn bị phá hủy trong một cơn hỏa hoạn lớn vào năm 1440.

Tiếp nối hạnh nguyện của ngài Bodhisena, một số tu sĩ khác, bất kể hành trình hiểm nguy, đã đến Nhật Bản và cống hiến hết mình trong việc truyền bá Phật giáo. Tên của một số vị được ghi và lưu giữ tại các chùa cổ ở Nhật Bản.

Zen

Zen là một trong những trường phái thịnh hành ở Nhật. Tuy Zen được truyền vào Nhật từ Trung Quốc nhưng người khai sáng là một tu sĩ Ấn Độ, ngài Bồ-đề Ðạt-ma, nhà tiên tri của Hoàng gia Kanchi, Nam Ấn. Ngài Bát-nhã-đa-la (Prajñātara), một bậc thầy lỗi lạc về thiền định Phật giáo, đã khuyến hóa ngài vào Tăng đoàn. Sau khi thầy mình viên tịch, ngài đã truyền bá thiền định ở Ấn Độ trong vài năm. Sau đó, ngài sang Trung Quốc vào năm 526 TL để truyền bá hệ thống triết học của mình. Ngài Bồ-đề Ðạt-ma được Lương Võ đế, một vị vua ủng hộ Phật giáo, tiếp đón thân mật tại kinh đô, Nam kinh. Nhận thấy Lương Võ đế không thể hiểu thấu được triết lý u huyền của mình, ngài Bồ-đề Ðạt-ma rời kinh đô và đến chùa Thiếu lâm, gần Lô Giang, Bắc Trung Quốc.

Ngài Bồ-đề Ðạt-ma ở chùa Thiếu lâm thực hành bích quán, mặt hướng vào vách thể nhập thiền định, không tiếp xúc với ai trong vòng chín năm.[7] Ở Trung Quốc Ngài Bồ-đề Ðạt-ma nổi tiếng về bích quán. Ngài chuyên về thiền định, Ngài nói, “Giác ngộ cần phải đạt”. Trường phái chuyên về thiền định do Ngài thành lập ở Trung Quốc gọi là Thiền. Thiền dạy chúng ta không nên tin vào kinh sách một cách mù quáng. Trường phái cũng bác bỏ việc tôn thờ tôn tượng và Tăng. Theo trường phái này “Phật ở trong tâm con người. Và tánh Phật luôn luôn trong sáng, chiếu tỏa mọi nơi.” Áo nghĩa triết học của ngài Bồ-đề Ðạt-ma ảnh hưởng sâu đậm đế tinh thần Phật giáo Nhật Bản, nơi mà Thiền trở thành Zen với những bổ sung tất yếu.[8]

1000 năm gián đoạn

Sau những trao đổi văn hóa Ấn-Nhật ở thế kỷ 8-9 Tây lịch, có một thời gian  gián đoạn khoảng 500 năm. Mãi đến thế kỷ 14, một tu sĩ theo tông Nhật Liên đến Ấn Độ. Ngài để lại những ghi chép trong chuyến viếng thăm, một bia khắc ở hang động số 66 tại Kanheri gần Bombay. Tuy nhiên, vào lúc đó, Phật giáo đã hoàn toàn biến mất khỏi Ấn Độ và nhà chiêm bái Nhật Bản mang đầy thất vọng trước số phận bi đát của tôn giáo mình yêu chuộng. Sau chuyến chiêm bái của ngài, có thêm một sự gián đoạn khoảng 500 năm cho đến thời hiện đại.

Giao lưu tiếp tục

Sự giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Ấn Độ có thể nói đã bắt đầu trở lại vào năm 1893. Sau chuyến trở về từ Mỹ, tham dự hội thảo các tôn giáo thế giới ở Chicago, ngài Anagarika Dharmapala, người sáng lập Hội Đại Bồ-đề của Ấn Độ, đã viếng thăm Nhật Bản vào tháng 10 năm 1893. Ngài được người Nhật tôn kính đón tiếp và trao tặng một tượng Phật rất đẹp. Về lại Ấn Độ, ngài Dharmapala cố tôn trí tượng Phật trong Đại tháp ở Bồ-đề đạo tràng nhưng bị một số người theo Ấn giáo ngăn cản. Chẳng những thế, ngài Anagarika và một số vị khác bị tấn công và tượng Phật bị ném ra sân. Thảm cảnh Phật giáo Ấn Độ đã gây chú ý cho giới Phật giáo Nhật Bản và thế giới.

Sự khánh thành tinh xá Mulagandhakuti tại Sarnath vào tháng 11 năm 1931 là một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử Phật giáo Ấn độ. Tinh xá Mulagandhakuti đưa Ấn Độ và Nhật Bản xích lại gần hơn. Một điều quan trọng là những kiểu bích họa đẹp về cuộc đời Đức Phật ở hang động Ajanta được họa sĩ danh tiếng Nhật Bản, Kostesu Nosu, tái tạo trên tường của tinh xá. Ông ta đã mất ba năm để hoàn thành kiệt tác này, từ năm 1932 đến 1935. Một trong những tông phái thịnh hành ở Nhật Bản là tông Nhật Liên. Tông này do ngài Nhật Liên sáng lập, ngài sanh vào năm 1222. Theo ngài, kinh Pháp Hoa, được cho là chính Đức Phật thuyết tại đỉnh Linh thứu vài năm trước khi Phật nhập Niết-bàn, là cốt tủy của Phật giáo. Ngài giáo hóa đệ tử trì tụng liên tục câu “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.”  Ngài Nhật Liên cũng dự đoán rằng Phật giáo Nhật Bản sẽ trở lại Ấn Độ. Theo dự đoán này Thượng tọa Nichidassu Fujii, thường gọi là Fujii Guruji, thuộc dòng Nhật Liên, nghĩ đến việc hồi sinh Phật giáo Ấn Độ. Ngài bắt đầu cuộc hành trình của mình vào năm 1930 qua các vùng, Manchuria, Hongkong và Singapore đến Calcutta vào tháng 2 năm 1931. Không tìm được chỗ định cư, ngài đến Bombay và trú gần một nghĩa địa Nhật. Ở Bombay, ngài Fujii Guruji chỉ đi quanh thành phố đánh trống và niệm Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, không thực hiện một việc truyền bá đặc biệt nào. Vào ngày 4 tháng 10 năm 1933, ngài gặp thánh Gandhi tại Wardha. Gandhiji có ấn tượng với câu niệm, Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, thánh Gandhiji đã dành một chỗ đặc biệt trong phòng mình cho câu niệm này. Năm 1935, Ngài Fujii Guruji lại đến Calcutta và dựng một ngôi chùa nhỏ. Năm 1936, ngài truyền giáo tại Linh thứu, nơi Phật giảng kinh Pháp Hoa. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, ngài trở về Nhật vào năm 1938.

Giai đoạn Phật giáo được truyền vào Nhật Bản, một số bản kinh bằng Phạn văn cũng được lưu hành, ngay cả bây giờ vẫn còn được lưu giữ tại một số chùa cổ. Ðầu năm 607 TL, thái tử Thánh Ðức bắt đầu thuyết giảng về kinh Phạn văn Ðại thừa Phật giáo. Học giả tiếng Phạn Ấn Độ đầu tiên, Bodhisena, người đến Nhật Bản vào năm 736 TL, dạy tiếng Phạn một vài năm tại một trường ở Nara. Nhưng những thế kỷ sau, dường như việc học tiếng Phạn bị bỏ vì phần lớn người Nhật Bản lệ thuộc vào văn chương Phật giáo Trung Hoa, tiếng Hán. Chỉ đến thế kỷ XIX việc học tiếng Phạn và Pāli mới được khuyến khích và trở nên phổ biến. Học giả tiếng Phạn tiên phong thời hiện đại ở Nhật là giáo sư B. Nanjio (1848-1927), đại học Otani. Giáo sư đã xuất bản một số kinh điển Ðại thừa bằng tiếng Phạn từ năm 1881 đến 1923. Một học giả tiếng Phạn tiên phong khác là U. Wogihara, giáo sư đại học Taisho. Tiếp nối hai vị giáo sư này có các vị khác như G. Tokiwai, K. Watanbe, S. Yamaguchi, D.T. Suzuki, H. Isumi, và R. Kondo.

Trong lãnh vực nghiên cứu Pāli giáo sư C. Akanuma, giáo sư đại học Otani, là học giả lỗi lạc nhất. Những tác phẩm của ông, Tự điển danh từ riêng Phật giáo (Dictionary of Buddhist Proper Names, 1931), Bản so sánh kinh điển Pāli và các phiên bản Hán ngữ (Comparative Catalogue of Pāli canon and its Chinese Versions) được xem là những tác phẩm có tính học thuật cao. Một số học giả Pāli xuất sắc do Nhật đào tạo như: J. Takakusu, M. Nagai, S. Tachibana, Funashihi, R. Hingata, K. Mizunu, G.Sasaki, U. Nagai, và Kogen Mizuno.

Hưởng ứng công trình của Hội Thánh điển Pāli, các học giả Nhật Bản cũng đảm nhiệm công việc quan trọng đầu tiên là dịch toàn bộ Tam tạng Pāli[9] sang tiếng Nhật. Tam tạng tiếng Nhật, 65 quyển, được chuẩn bị in ấn đặt dưới sự giám sát của giáo sư J. Takasu, cựu giáo sư đại học Tokyo và giáo sư M. Nagai, giáo sư hưu trí đại học Tokyo.

Những phát triển sau năm 1956

Năm 1956 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử thăng trầm của Phật giáo, Phật lịch 2500. Theo truyền thống, kỷ nguyên Phật giáo bắt đầu vào năm 544 TTL, ngày nhập Niết bàn của đức Phật. Sự kiện lịch sử này được giới Phật giáo toàn cầu tổ chức một cách quy mô. Ở Ấn Độ, sự kiện này được tổ chức với cấp độ quốc gia dưới sự tài trợ của Ủy ban tổ chức Phật đản do chính phủ Ấn Độ thành lập, Tiến sĩ S. Radhakrishman, phó tổng thống Ấn Độ, làm chủ tịch. Sự tổ chức Phật đản năm đó của chính phủ Ấn Độ đã mở ra một kỷ nguyên mới cho mối quan hệ hợp tác trao đổi văn hóa gần gũi hơn với các nước lân cận và các nước Phật giáo Viễn đông. Do vậy, từ năm 1956 trở đi, những mối quan hệ văn hóa với các quốc gia này, bao gồm Nhật Bản, đã thay đổi bất ngờ. Bây giờ, giữa Ấn Độ và Nhật Bản có một mối liên lạc thường xuyên hầu như trong mọi lãnh vực. Các đoàn hành hương, học giả và du khách từ Nhật Bản sang Ấn Độ tăng nhanh. Các nhân vật quan trọng Nhật Bản đã viếng thăm Ấn Độ trong thời gian từ năm 1956 đến 1988, bao gồm: Riri Nakayana, Kosho A. Ohtani, Nikkyo Niwano, Myohen Tokuda, Ryuju Mizuno, Shodo Okano, Y. Sugisaki, Kawai, Osada, Iwaya, Motoyuki Naganuma, Thiền sư D.T. Suzuki và nhiều vị khác nữa. Trên cơ sở hỗ tương, hầu như tất cả các nhà lãnh đạo cao cấp Phật giáo Ấn Độ đã đến Nhật Bản. Bao gồm các vị: Devapriya Valisinha, Tổng thư ký Hội Đại Bồ-đề, Ấn Độ, từ năm 1933 đến 1968, Thượng tọa N. Jinaratana, M. Sangharatana, tiến sĩ. U. Dhamaratana, Rahul Sankritayayan, Bhadant Anand Kausalyayan và Jagdish Kashyap. Một số vị đã hợp tác với các hiệp hội Phật giáo Nhật Bản. Ví dụ, Thượng tọa Jagdish Kashyap được bầu làm phó chủ tịch Tăng già Phật giáo Bharat – Nhật Bản năm 1970, và Thượng tọa N. Jinaratana một trong những vị phó chủ tịch thành lập Hiệp hội Phật giáo Hữu nghị Thế giới của Nhật Bản. Một điều quan trọng nữa, ngày nay có đến ba chi nhánh Hội Đại Bồ-đề của Ấn Độ ở Nhật Bản, tại các vùng như,  Atami-shi, Atami; Nakamuraku, Nagoya và Kita-ku (Bắc khu), Tokyo.

Ấn Độ cũng đã cúng một phần xá-lợi Phật cho Phật giáo Nhật Bản. Vào tháng 6 năm 1966, một số xá-lợi Phật đã được Thượng tọa N. Jinaratana Nayaka và M. Sangharatana Nayaka thuộc Hội Đại Bồ-đề Ấn Độ đã đưa từ Calcutta về Tokyo, và trao cho ngài Nikko Niwano, chủ tịch Hội Lập Chánh Giao Thành Risshō Kōsei Kai 立正交成会), tại một buổi lễ long trọng ở Tokyo. Sau này, xá-lợi được thờ tại[10] trụ sở Rissho Kossei-kai ở Tokyo, và một phần tại Tháp mới (New Pagoda) ở thành phố Nagoya. Vào năm 1973 một phần xá-lợi khác được Hội Đại Bồ-đề Ấn Độ trao tặng cho Y. Sugisaki, chủ tịch Hiệp hội Daijokyo, và năm 1976 một phần khác được thờ[11] tại tháp hòa bình ở chùa Daijokyo Sohonzan, Nagoya, Nhật bản.

Về tổ chức Phật đản lần thứ 2500, một cuộc hội nghị Phật giáo quốc tế được chính phủ Ấn Độ tổ chức tại New Delhi vào tháng 11 năm 1956. Một phái đoàn đại biểu Nhật Bản, bao gồm Fujii Gurujii, tham dự hội nghị duy nhất này, hội nghị đầu tiên như thế được tổ chức trong thời hiện đại ở Ấn Độ. Tại hội nghị này, Jawaharlal Nehru, Thủ tướng Ấn Độ, đề nghị một chương trình tái thiết đặc biệt cho núi Linh thứu vì ông ta cho rằng, không giống như thánh địa Phật giáo khác, đỉnh Linh thứu không có gì cho khách hành hương và du lịch để viếng thăm. Do vậy, Ủy ban tái thiết Linh thứu được thành lập do chính thủ tướng Nehru điều hành. Vào năm 1964 sau khi Nehru bị ám sát, Morarji Desai, cựu bộ trưởng tài chánh kiêm phó thủ tướng, trở thành chủ tịch uỷ ban. Fujii Guruji, ủy viên của ủy ban này, đã tài trợ xây dựng một đại tháp tại Linh thứu.

Tiến sĩ S. Radhakrishman, sau trở thành tổng thống Ấn độ, đã đặt viên đá xây dựng tháp hòa bình trên ngọn đồi Ratnagiri tại Linh thứu (bang Bihar) vào tháng 3 năm 1965. Tổng thống thứ tư của Ấn Độ, V.V. Giri, đã khai mạc lễ khánh thành tháp hòa bình (Vishva Shanti Stupa). Giáo sư Minoru Ohoka, người Nhật, và nghệ nhân danh tiếng Ấn Độ, Upendra Maharathi, đã thiết kế nghệ thuật. Tháp đỉnh vàng cao 160 feet, hầu như gấp đôi kích thước tháp Sanchi. Đây là sự xây dựng chùa, tháp Phật giáo chính yếu đầu tiên của Phật giáo Nhật Bản trong thời hiện đại ở Ấn Độ. Sau này, Thượng tọa Fujii Guri xây một ngôi tháp hòa bình trên ngọn đồi Dhauli gần Bhuaneshwar, bang Orissa. Dhauli là nơi đại đế Asoka được giáo hóa theo Phật giáo sau trận chiến Kalinga lịch sử. Ngôi tháp này khánh thành vào ngày 8 tháng 11 năm 1972.

Thượng tọa Fujii Guruji cũng đã xây dựng một ngôi chùa Nhật Bản nguy nga, thường gọi chùa Nipponzan Myohoji, tại Linh thứu. Công trình được hoàn tất và khánh thành vào năm 1981, ngôi chùa này cũng gọi là Venuvara Vihara lấy tên của tu viện nổi tiếng do vua Bimbisara xây dựng tại Linh thứu để dâng cúng cho Đức Phật.

Sự kiện nổi bật nhất trong buổi lễ Phật đản, PL. 2500 là sự qui y Tam bảo của Bồ-tát B. R. Ambedkak cùng với nửa triệu người theo ông, tại Napur vào ngày 14 tháng 10 năm 1956. Sự kiện lịch sử này đã đánh thức giới Phật giáo thế giới và họ chú ý đến Phật giáo Ấn Độ. Trong khi đó, chính phủ Bihar đã ban hành đạo luật điều hành Đại tháp Bồ-đề vào năm 1949, Phật giáo là thành viên trong ban điều hành Đại tháp Bồ-đề. Ðiều này đã khuyến khích các quốc gia Phật giáo xây dựng chùa tại thánh địa nơi Phật thành đạo. Hoàng gia Thái Lan đã bắt đầu công việc trên vào năm 1957. Ðến bây giờ, người Nhật đã xây hai ngôi chùa uy nghiêm tại Bồ-đề đạo tràng. Ngôi chùa Nhật Bản đầu tiên tại Bồ-đề đạo tràng đã được Hiệp hội Thân hữu  Phật giáo thế giới (Kokusai Bukkyo Koryu Kyokai), một hiệp hội do nhiều tông phái Phật giáo Nhật Bản thành lập. Ngôi chùa còn được gọi là Ấn Độ Sơn Nhật Bản tự (印度山日本寺Indosan Nipponji), được xây dựng một cách quy mô nhờ vào sự nỗ lực của S. Iwaya, chủ tịch Hiệp hội Thân hữu Phật giáo thế giới. Chùa được khánh thành và tháng 12 năm 1973 với sự tham dự của V.V. Giri, tổng thống Ấn độ.

Ngôi chùa Nhật Bản thứ hai được xây dựng tại Bồ-đề đạo tràng do Hiệp hội Đại Thừa giáo (Daijokyo大乗教). Hội Daijokyo do bà Tatsuko Sugiyama sáng lập, và chủ tịch hiện thời là Sugisaki. Ngôi chùa Daijokyo tại Bồ-đề đạo tràng được khánh thành vào tháng 2 năm 1983 với sự tham dự của Giani Zail Singh, tổng thống Ấn Độ. Hội Daijokyo cũng dựng một tượng Phật lớn bên cạnh ngôi chùa. Xây dựng từ năm 1984, tượng Ðại Phật ngồi trong tư thế thiền định trên một tòa sen đá chunar màu vàng, bệ bằng đá granite màu hồng. Chiều cao của tượng 80 feet, chiều ngang 60 feet. Bên trong tượng có cấu trúc trống rỗng. Giá gỗ đặt bên trong tường trên ba tầng của tượng để thờ 16300 tượng Phật đồng nhỏ. Buổi lễ khai quang điểm nhãn tượng Phật cao nhất Ấn Độ này vào tháng 11 năm 1989 là bước ngoặc lịch sử của Phật giáo Ấn Độ. Nó làm tăng uy tín của Nhật Bản ở Ấn Độ.

Tổng kết

Sự trao đổi văn hóa Ấn-Nhật, bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII TL, đã đạt đến thời kỳ rực rỡ và đưa hai nước lại gần hơn vì lợi ích của cả hai. Như giáo sư Hajime Nakamura nói:[12] “Nếu không có sự ảnh hưởng của Ấn Độ, văn hóa Nhật Bản không thể huy hoàng như ngày nay”. Bằng cách xây dựng chùa, tháp trên Ấn Độ thời hiện đại, người Nhật đã trả được ân huệ trên. Và những cấu trúc chùa, tháp này sẽ tăng cường mối quan hệ văn hóa thân mật Ấn-Nhật.

DC. Ahir

Thích Giác Hiệp dịch

 

(Trích dịch từ: Jha, V.N., (ed.), Kalyana Mita: Prof. H. Nakamura Felicitation Volume, Delhi: Sri Satguru Publications, 1991.)

(nguồn: Thích Giác Hiệp (chủ biên), Tuyển Tập Tri thức Phật giáo, TP.HCM: NXB Tôn giáo, 2011, tr. 117-122)

[1] K.N.Katuji, Buddhism and India, Diamond Jubliee Souvenir of the Maha Bodhi Society of India, 1951, p. 150.

[2] P.V.Bapat, ed. 2500 Years of Buddhism, Delhi, 1956, pp. 70-71.

[3] Ibid: 457.

[4] The UNESCO Courier, Vol. 9, no. 2, August 1956, New York, Bronze colossus, p. 52.

[5] 2500 Years of Buddhism, 1956, p. 458.

[6] Imprints of India Thought and Culture Abroad-Culture Exchange between India, China and Japan-Shiego Kamata, Vivekananda Kendra Patrika, Madras Vol. 9, no.1, February 1980, pp. 95-97.

[7] P.C. Bagchi, India and China, pp. 107-109.

[8] D.C.Ahir, Heritage of Buddhism, 1989, pp. 83-84.

[9] J.N. Takasaki, 2500 Years of Buddhism, Progress of Buddhist Studies, 1956, P.443.

[10] The Maha Bodhi Journal, Calcutta, Vol.74, No. 9-10, Sept-Oct., 1966, p.230.

[11] The Maha Bodhi Journal, Calcutta, Vol.84, No. 11-12, Nov-Dec., 1976, p.420

[12] Vivekananda Kendra Patrika, Madras, Vol. 9, No. 1, Feb. 1980, p. 111.

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên