Stupa n° 3. Gana-s on the unique torana, looking south. Sanchi

 

Theo cách nói của bà Rhys Davids, sự ra đời của Ðức Phật là “Một sự kiện quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại”, và Ngài là “Một người được mọi người tôn kính như ánh sáng của châu Á và thế giới”. Ðúng như thế, tư tưởng của Ðức Phật Thích-ca đã tạo khuôn mẫu cho cuộc sống của hàng triệu tín đồ khắp thế giới trong khoảng 26 thế kỷ qua. Với đức tính cao quý, trí tuệ, và sự vĩ đại, Ngài được tôn vinh như một vị đạo sư vô tỷ.

          Ðức Phật là một nhà truyền giáo, một vị Thầy tâm linh và cũng là nhà cải cách xã hội vĩ đại. Trước khi ngài ra đời, luật lệ tôn giáo xã hội ở Ấn độ, như được thấy trong văn chương Vệ-đà, truyện cổ tích, chuyện tiền thân và các nguồn khác, rất hà khắc, chia rẽ, áp bức và dã man đối với số đông quần chúng. Dĩ nhiên, sắc dân Arya có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng về mặt đạo đức họ chỉ có những phong tục của bộ tộc, ngoài ra họ không tôn trọng giá trị đạo đức khác. Vào thời kỳ đó, chế độ nô lệ được xem là bình thường. Trái ngược với nguyên lý tự do niềm tín, trẻ em của giai cấp nô lệ thường bị bắt buộc theo nghề của cha, mẹ. Vai trò của phụ nữ không được coi trọng. Về mặt giáo dục, mọi người, số đông tầng lớp trung lưu và hạ lưu của xã hội, bị gạt bỏ những quyền lợi của họ. Giai cấp Bà-la-môn và vua chúa đã độc quyền. Trong tất cả cộng đồng, địa vị giai cấp Thủ-đà-la (Sudra) là tồi tệ hơn hết. Họ phải tôn kính giai cấp cao hơn qua một số luật lệ dã man. Nếu họ học, tụng Vệ-đà, lưỡi của họ bị cắt; nếu họ phỉ báng một người giai cấp cao hơn hoặc bày tỏ thái độ giận dữ đối với giai cấp cao, họ sẽ bị đâm vào họng bằng một roi sắt nóng. Chẳng những thế, toàn bộ cấu trúc xã hội dựa trên nguyên lý bất bình đẳng. Những luật lệ dã man trên được áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi và đặc ân của giai cấp cao. Ngay cả việc trừng phạt người phạm tội cũng dựa trên nguyên tắc bất bình đẳng, đa số là giai cấp nghèo còn thiểu số là giai cấp Bà-la-môn.

Ðức Phật chống lại những luật lệ xã hội dã man như thế. Ngài tuyên bố triết lý tự do, bình đẳng và thân thiện mới, triết lý đem lại lợi ích chung cho số đông. Một cách xác thực, Ðức Phật là người đầu tiên đả phá thành lũy đặc quyền, hệ thống giai cấp, chủ nghĩa nghi thức, cuồng tín tôn giáo, mê tín và si mê. Ðức Phật giảng giải triết học siêu việt của tình hữu nghị và bình đẳng toàn cầu qua mọi phương diện. Do vậy, Ðức Phật là người tạo ra các giá trị đạo đức như: tự do cá nhân, khoan dung, thông cảm, từ bi, bất hại (ahimsa), nhân từ, phục vụ và hy sinh.

Không cần diễn tả, Ðức Phật chống đối mạnh mẽ hệ thống giai cấp. Cánh cửa Tăng đoàn mở rộng cho tất cả, bất chấp địa vị xã hội. Ngài dạy tất cả mọi người đều có khả năng chứng đạt Niết-bàn. Chẳng những thế, ngài tiến thêm những bước thực tiễn nữa để loại bỏ những sai lầm trên. Những bước tiến này là: không chấp nhận những điều phi lý, cho dù chúng được ghi trong thánh điển, được ủng hộ bởi những người có uy tín, huyền thoại cao siêu của Bà-la-môn. Ngài khuyến khích phá bỏ những điều luật sai lầm trên bằng cách thọ trai tại các nhà thí chủ; và bình đẳng trong thu nhận giai cấp thấp vào Tăng đoàn. Ngài nói, “giá trị” không phải “sinh ra” mà “giá trị” là phẩm chất của con người qua tu tập.

Hiển nhiên, nhờ giáo lý từ bi của Ðức Phật mà người Ấn đã chuyển sang ăn chay. Vua A-dục, vị hoàng đế Phật giáo đầu tiên,  cũng là vị vua Ấn Độ đầu tiên tuyên bố tính thiêng liêng của cuộc sống thú vật. Ông ra lệnh dân chúng tránh giết hại thú vật để tiêu khiển hay tế lễ. Harsha, vị hoàng đế Phật giáo sau cùng, sau khi lên ngôi ông đã ban hành sắc lệnh cho dân chúng không được ăn thịt. Sau này, dựa trên quan điểm của Phật giáo, thánh Vaisnava và Saiva truyền giảng thuyết ăn chay.

Giáo dục ở Ấn Độ thời kỳ trước Phật giáo có hai điểm đặc trưng: 1) Chỉ giới hạn ở giai cấp cao của xã hội, chính yếu là Bà-la-môn và vua chúa, và 2) Chủ yếu dựa trên một vị thầy với một nhóm nhỏ học trò, hệ thống nhà thầy giáo (gurugrha). Phật giáo đã cải cách cả hai khuynh hướng này. Phật giáo mở rộng học vấn cho tất cả và giới thiệu hệ thống tổ chức trường học trong tu viện. Những tu viện mang hình thức viện giáo dục sau này trở thành những trường đại học nổi tiếng, như: Nalanda, Valabhi, Vikramasila, Jagaddala và Odantapuri. Giáo dục trong những tu viện đại học này không chỉ đào tạo tu sĩ mà còn đào tạo các học giả nổi tiếng, có vị trí trong văn hóa học thuật. Hàng ngàn học trò đến học, chẳng những từ các vùng khác nhau của Ấn Độ mà còn từ các nước khác. Như vậy, ở Ấn Độ Phật giáo đã tiên phong trong việc thiết lập hệ thống giáo dục và hệ thống thư viện theo nghĩa hiện đại. Những thư viện nổi tiếng đã tồn tại trong Tinh xá Phật giáo ở Nalanda, Valabhi, Vikramasila, Jagaddala và Odantapuri.

Ngay sau khi Ðức Phật nhập Niết-bàn, việc thờ Xá-lợi trở nên thịnh hành. Khuynh hướng tôn thờ này đã phát sinh ra nghệ thuật điêu khắc bởi vì người ta nghĩ cần phải có hình tượng trước mặt để họ lễ bái và bày tỏ lòng thành kính. Trong những giai đoạn đầu, Đức Phật được diễn tả thông qua các biểu tượng. Đản sanh của Ngài được diễn tả bằng cảnh hoàng hậu Maya trên hoa sen với con voi trắng đang đi đến bên bà. Sự xuất gia của ngài được diễn tả bằng một con ngựa không có người điều khiển, sự giác ngộ là một mô đất trống dưới cây Bồ-đề. Cảnh chuyển Pháp luân được diễn tả bằng một bánh xe. Trên các chiếu chỉ khắc trên các trụ đá của vua A-dục voi là biểu tượng Ðức Phật. Các trụ đá vua A-dục với những con sư tử, bò v.v… là những kiệt tác của nghệ thuật Ấn Độ thời kỳ đầu. Truyền thống do vua A-dục phát khởi được kế tục bởi các Phật tử, và vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, nghệ thuật Phật giáo bước vào một giai đoạn hoạt động sôi nổi. Mỹ thuật điêu khắc trên lan can và cổng tháp ở Sanchi, Bharut (trung Ấn), Amaravati và Nagarjunakonda (tiểu bang Andhra Pradesh) thuộc giai đoạn này. Quả thật Ðại tháp Phật giáo ở Bharut là kiểu điêu khắc sớm nhất tìm thấy ở Ấn Độ, còn lại cạnh nền Văn minh thung lũng Indus. Trong triều đại vua Kanisha (thế kỷ I Tây lịch) điêu khắc tượng Phật cũng trở nên thịnh hành. Hai trường phái nghệ thuật và điêu khắc quan trọng của Phật giáo là Gandhara và Mathura. Viện bảo tàng Mathura còn lưu giữ những kiệt tác của trường phái nghệ thuật Mathura. Các tượng Phật được điêu khắc ở Mathura vào thế kỷ thứ V Tây lịch được xem là sáng tạo vĩ đại nhất của nghệ thuật Ấn Độ. Một ví dụ khác về sự huy hoàng của nghệ thuật Phật giáo, đó là các hang động Ajanta-Ellora nổi tiếng thế giới. Những hang động đá, được điêu khắc lộng lẫy với những bức tranh họa xinh đẹp trên tường, cột và trần. Chúng là những di sản giá trị nhất của nghệ thuật Ấn Độ cổ đại.

Trong nghệ thuật hoặc trong kiến trúc, câu chuyện Ấn Độ cổ đại bắt đầu từ Phật giáo. Kiến trúc Phật giáo chú trọng vào ba điểm: đỉnh tháp, bái điện và hang động đá. Những loại này được phát hiện nhiều nơi khắp nước và là một nguồn cảm tác cho các kiến trúc sư hiện đại. Kiến trúc và nghệ thuật nổi tiếng của cổng Sanchi, cửa sổ hang động Ajanta ảnh hưởng đến thời hiện đại qua kiến trúc các tòa nhà chính phủ và cá nhân.

Sau khi được độc lập, các nhà lập hiến quay về lịch sử để tìm ra một ý tưởng, họ không thất vọng. Phật giáo có tất cả những gì họ muốn. Họ đã lấy biểu tượng “Sư tử” trên trụ đá của vua A-dục tại Sarnath là biểu tượng của quốc gia. Biểu tượng bánh xe pháp (Dharma-Chakra) được đặt giữa quốc kỳ. Họ cũng chấp nhận khái niệm một quốc gia thế tục và phúc lợi được thuyết giảng bởi vua A-dục. Triều đại A-dục thật sự là một triều đại thịnh vượng. Ước muốn duy nhất của vua A-dục là giúp cho mọi người an lạc trong hiện tại cũng như tương lai. Ông nói, “Ðối với tôi không gì quan trọng hơn là đem lại phúc lợi cho mọi người.”

Phật giáo đóng góp rất nhiều cho tư tưởng Ấn Độ. Ảnh hưởng nhiều đến các học giả Hindu. Theo tiến sĩ Surendranath Das Gupta: “Hầu hết giáo lý cao siêu của Puranas có thể được tìm thấy trong Thánh điển Phật giáo. Phần nhiều các huyền thoại, câu chuyện của Puranas có nguồn gốc từ những chuyện Tiền thânThí dụ. Tất cả các tác phẩm về Yoga, như Vyasabhasya thật sự là một phiên bản Hindu hóa của Du-già Phật giáo.” Các tác phẩm Hindu nổi tiếng như Ramayana, Maha-Bharata và Bhagvad Gita chẳng những là hậu Phật giáo mà còn vay mượn Phật giáo trong nhiều khía cạnh. Ngay cả Sankara, triết gia Ấn giáo vĩ đại nhất ở thế kỷ thứ VIII, mượn triết lý Vedanta, biện chứng pháp từ giáo lý Phật giáo. Tiến sĩ Das Gupta đề cập tiếp, “Tôi rất kính trọng bậc thầy vĩ đại Sankara, nhưng khi phân tích cẩn thận bài viết của ông ta cho thấy một cách chính xác rằng phần lớn ông ta đã vay mượn giáo lý, ngữ cú, biện chứng pháp từ Phật giáo. Chẳng những Sankara mà còn nhiều đệ tử của ông ta như Sriharsa, Anandjnana…đã xây dựng Vendata thành một hệ thống triết học lý luận theo cách của ngài Long Thọ và một số học giả Phật giáo khác.”

Không nghi ngờ gì, Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu đậm lên văn hóa Ấn Độ. Tiến sĩ S. Radhakrishnan, tổng thống thứ hai của Ấn độ nói: “Phật giáo để lại một dấu ấn vĩnh viễn vào văn hóa Ấn độ. Sự ảnh hưởng của nó có thể thấy trên mọi mặt. Niềm tin Ấn giáo đã hấp thụ khía cạnh đạo đức tích cực của Phật giáo. Một khía cạnh mới cho cuộc sống, người dân Ấn có cách sống nhân từ với thú vật, trách nhiệm và nỗ lực cho cuộc sống cao hơn. Hệ thống Bà-la-môn giáo, nhờ vào sự ảnh hưởng của Phật giáo, đã phá bỏ phần nào các hủ tục.”

Tóm lại, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể trong nền văn hóa Ấn Độ như sau:

  1. Bằng cách thuyết giảng “giá trị” không phải do “sinh ra” mà do chính phẩm chất con người, Phật giáo đã giúp nới lỏng hệ thống giai cấp nghiêm khắc.
  2. Bằng cách mở rộng giáo dục cho tất cả, Phật giáo mở cửa cho sự phát triển của giai cấp thấp trong xã hội.
  3. Bằng cách phá bỏ mê tín, niềm tin mù quáng, nghi thức và nô lệ tri thức, Phật giáo mở rộng phương trời tư duy của quần chúng và chuẩn bị nền tảng cho những cải cách xã hội.
  4. Bằng cách thuyết giảng bất hại, và từ bi, Phật giáo giúp cho mọi người ý thức giá trị cuộc sống và khiến họ xa rời các cuộc tế lễ đẫm máu.
  5. Bằng cách thay thế đạo đức trước đây, Phật giáo diễn giải đúng chữ “pháp” đối với mọi người.
  6. Tinh hoa của các Thánh nhân, học giả, thi sĩ và triết gia Phật giáo ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng Hindu sau này.
  7. Nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ đã bắt nguồn từ Phật giáo và đạt được thành tựu.
  1. Thông qua Phật giáo văn hóa Ấn Độ được truyền bá khắp châu Á. Chính các nhà truyền giáo Phật giáo đã dương cao ngọn đuốc văn minh và văn hóa Ấn Độ khắp nơi và biến văn hóa Ấn Độ thành nền văn hóa hàng đầu thế giới.

Thích Giác Hiệp dịch

(Trích dịch từ:  Ahir, D.C. Buddhism in South East-Asia. Delhi: Sri Satguru Publications, 2000)

(nguồn: Thích Giác Hiệp (chủ biên). Tuyển tập Tri thức Phật giáo, số 3. TP.HCM: NXB Tôn giáo, 2011)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên