Toàn cảnh chùa Minh Tịnh hiện nay. 
ảnh Như Tịnh (2011)
Chùa tọa lạc tại số 35 đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn.
KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Trước chùa có Tam quan xây đá, ba cửa cuốn vòm, mái đúc xi măng giả ngói. Cửa giữa cao gần 4m, hai cửa hai bên thấp hơn, nhìn chung khá đồ sộ và vững chãi.
Trên cửa giữa có cổ lâu, đắp nổi hàng Phạn văn và tượng Phật Thích Ca thành đạo. Dưới vòm cuốn có biển hiệu chùa: 敕 賜 明 靜 寺 Sắc Tứ Minh Tịnh Tự (chùa Minh Tịnh được vua ban biển Sắc tứ). Hai bên có hai câu liễn:
明 開 般 若 門 回 歸 萬 善
靜 入 菩 提 地 絕 染 壹 塵

* Trang 117 *

Phiên âm: 
Minh khai Bát nhã môn, hồi quy vạn thiện,
Tịnh nhập Bồ đề địa, tuyệt nhiễm nhất trần.
Dịch nghĩa:
Sáng suốt mở cửa Bát nhã, muôn thiện trở về,
Lặng yên vào đất Bồ đề, mảy bụi không nhiễm.
Trên mày cửa tả đắp nổi bốn chữ 國 泰 民 安 Quốc Thái Dân An (nước yên dân ổn). Trên mày cửa hữu đắp nổi 4 chữ 風 調 雨 順 Phong Điều Vũ Thuận (gió hòa mưa thuận)Hai bên trụ Tam quan có 2 câu liễn:
_前 近 路 遊 客 往 來 同 瞻 禮 佛
後 遠 山 鳥 獸 歸 回 壹 聲 仰 祖
Phiên âm:
Tiền cận lộ, du khách vãng lai, đồng chiêm lễ Phật,
Hậu viễn sơn, điểu thú quy hồi, nhất thanh ngưỡng Tổ.
Dịch nghĩa:
Trước cận đường, du khách đi qua đồng lòng lễ Phật,
Sau cách núi, thú chim trở lại cất tiếng tôn sư.
Mặt sau Tam quan có hai câu liễn nữa:
明 闇 判 陰 陽 循 寰 逢 晝 夜
靜 動 通 天 地 開 盒 定 乾 坤
Phiên âm:
Minh ám phán âm dương tuần hoàn phùng trú dạ
Tịnh động thông thiên địa khai hạp định càn khôn.
Dịch nghĩa:
Tỏ mờ tách âm dương, xoay quanh ngày đêm tiếp,
Động lặng thông thiên địa, đóng mở đất trời yên.
明 開 道 行 廣 發 慈 心 能 救 苦
靜 入 禪 門 弘 傳 正 法 度 迷 人
Phiên âm:
Minh khai đạo hạnh, quảng phát từ tâm năng cứu khổ,
Tĩnh nhập thiền môn, hoằng truyền chánh pháp độ mê nhân.

* Trang 118 *

Dịch nghĩa:
Sáng suốt mở hạnh đạo, rộng phát lòng lành vớt nỗi khổ,
Lặng yên vào cửa Thiền, xa truyền pháp chánh độ người mê.
Bên trong ngõ, giữa sân có tượng đài Phật Thích Ca nhập định ở Long Cung. Sau tượng đài tới chánh điện.
Mặt tiền chùa Minh Tịnh (mới được trùng tu)
 ảnh Như Tịnh (2011)
Chánh điện là một ngôi nhà ngang, tọa hướng Đông, xây gạch lợp ngói, dài 12m, rộng 8m, diện tích 96m2, nền cao 1m, từ nền lên nóc cao 8m, mái chồng diêm, có cổ lầu, trên nóc có tượng lưỡng long chầu chữ A. Mặt tiền có ba cửa gỗ mở vào chánh điện. Trước hè có 4 trụ đều đắp liễn:
Câu liễn trên mặt hai trụ giữa:
明 照 佛 家 西 竺 祇 園 千 古 遠
靜 傳 禪 教 南 宗 臨 濟 萬 今 來
Phiên âm:
Minh chiếu Phật gia, Tây Trúc Kỳ Viên thiên cổ viễn,
Tịnh truyền Thiền giáo, Nam Tông Lâm Tế vạn kim lai.

* Trang 119 *

Dịch nghĩa:
Sáng chiếu Phật gia, Tây Trúc Kỳ Viên thiên cổ chiếu,
Tịnh truyền Thiền giáo, Nam Tông Lâm Tế vạn niên truyền.
Câu đối hai bên trụ biên:
明 看 海 前 潮 音 吟 妙 法
靜 觀 山 後 鳥 語 詠 真 詮
Phiên âm: 
Minh khán hải tiền, triều âm ngâm diệu pháp,
Tịnh quan sơn hậu, điểu ngữ vịnh chơn thuyên.
Dịch nghĩa:
Rõ xem biển trước, tiếng sóng ngâm pháp diệu,
Lặng xét non sau, lời chim vịnh lẽ mầu.
Trong điện có ba bức hoành, bức giữa đắp hiệu chùa 明 靜 寺Minh Tịnh Tự: Chùa Minh Tịnh; tấm tả đắp: 僧 保 障Tăng Bảo Chướng: Nhà sư làm bức trướng bảo vệ chùa; tấm hữu đắp 葉 流 芳Diệp Lưu Phương: Đời nọ nối đời kia lưu truyền tiếng tốt thơm tho.
Chánh điện chùa Minh Tịnh (cũ). 
ảnh lebichson.org

* Trang 120 *

Chánh điện chùa Minh Tịnh hiện nay.
 ảnh Như Tịnh (2011)
Bên dưới tấm hoành ở gian giữa có khám thờ Phật, bên trong tôn trí tượng Đức Bổn Sư và chư thánh. Hai bên có câu liễn:
兜 率 降 皇 宮 菩 提 座 雪 山 六 載
耆 闍 敷 教 網 拘 屍 城 鶴 樹 雙 林
Phiên âm:
Đâu Suất giáng hoàng cung, Bồ Đề tọa Tuyết sơn lục tải,
Kỳ Xà phu giáo võng, Câu Thi thành hạc thọ song lâm.
Dịch nghĩa:
Rời trời Đâu Suất xuống cung vua, trong núi Tuyết, dưới Bồ Đề, sau sáu năm biết đường giải thoát,
Mở hội Linh Sơn bày lưới pháp, tại thành Câu Thi nơi hạc thọ, giữa hai cây vào cảnh Niết Bàn.

* Trang 121 *

Bảng hiệu chùa Minh Tịnh.
ảnh Như Tịnh (2011)
 
Sau chánh điện, hai dãy Đông đường, Tây đường chạy dọc nối liền chánh điện với nhà Tổ chạy ngang làm thành bình diện kiến trúc có hình chữ khẩu [].
Nhà Tổ khá đồ sộ, cao lớn hơn Chánh điện, ngoài hè có ba tấm hoành, tấm giữa khắc 靈 祖 堂Linh Tổ Đường: Nhà thờ Tổ; tấm bên tả khắc 超 生 死Siêu Sanh Tử: Vượt ngoài vòng sống chết; tấm bên hữu khắc 脫 綸 迴Thoát luân hồi: Ra khỏi kiếp luân hồi. Trên hai trụ giữa có câu liễn:
明 斯 道 覺 斯 民 直 恉 雲 披 天 月 朗
靜 本 心 彰 本 佛 圓 音 雷 響 海 風 潮
Phiên âm:
Minh tư đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên nguyệt lãng,
Tịnh bổn tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải phong triều.
Dịch nghĩa: 
Làm sáng nơi đạo, đánh thức nơi dân, thẳng nẻo vạch mây cho nguyệt rạng,
Lặng yên ấy tâm, huy hoàng ấy Phật, cất lời sấm dây gọi triều lên.

* Trang 122 *

Mặt tiền Tổ đường chùa Minh Tịnh. 
ảnh Như Tịnh (2011)
Tổ đường chùa Minh Tịnh
ảnh Như Tịnh (2011)

* Trang 123 *

Bên trong, gian giữa đặt khám thờ Tổ, hai bên thờ linh. Trong khám thờ có tôn trí long vị Tổ khai sơn.
Hai bên khám có câu liễn:
一 花 香 遍 十 方 界
五 葉 流 輝 萬 世 傳
Phiên âm:
Nhất hoa hương biến thập phương giới,
Ngũ diệp lưu huy vạn thế truyền.
Dịch nghĩa:
Một hoa thơm tỏa ba ngàn cõi,
Năm lá xinh truyền vạn ức đời.
Bên ngoài có câu liễn:
明 鏡 絕 親 疏 去 者 不 留 來 不 距
靜 心 忘 記 憶 林 兮 非 寂 市 非 喧
Phiên âm:
Minh kính tuyệt thân sơ, khứ giả bất lưu lai bất cự,
Tịnh tâm vong ký ức, lâm hề phi tịch thị phi huyên.
Dịch nghĩa:
Gương sáng chẳng hiềm thân sơ, người đi chẳng cần lưu, kẻ đến chẳng hề đuổi
Lòng tịnh không nhớ ký ức, rừng sâu không thấy vắng, chợ đông không nghe ồn.
Phương trượng của Sư trụ trì ở nhà Tây, Tăng phòng ở nhà Đông. Trai phòng và Trù phòng sau nhà Đông.
Tháp Tổ khai sơn nằm trong vườn chùa.
Tại tháp có 2 câu liễn cẩn bằng miểng bát trên mặt 4 trụ hoa biểu:
明 照 慧 命 和 光 在
靜 寂 法 身 尚 顯 揚
Phiên âm:
Minh chiếu huệ mệnh hòa quang tại,
Tịnh tịch pháp thân thượng hiển dương.

* Trang 124 *

Dịch nghĩa:
Huệ mệnh rạng ngời hòa nhật nguyệt,
Pháp thân vắng lặng lộ chân như
明 住 伽 藍 新 棟 宇
靜 依 臨 濟 古 山 門
Phiên âm:
Minh trụ Già Lam tân đống vũ,
Tịnh y Lâm Tế cổ sơn môn.
Dịch nghĩa:
Rõ ở Già Lam chùa cảnh mới,
Lặng theo Lâm Tế cửa non xưa.
Bia tháp ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 世 開 山 敕 賜 明 靜 寺 僧 綱 諱 真 福 字 道 通 號 慧 法 大 老 和 尚 本 師 靈 塔.
                                   元 生 丁 亥 年 享 壽 九 旬 之 歲
                                   圓 寂 乙 卯 年 十 一 月 十 一 日 亥 刻
Phiên âm:
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Thế Khai Sơn Sắc Tứ Minh Tịnh Tự Tăng Cang Húy CHƠN PHƯỚC Tự ĐẠO THÔNG Hiệu HUỆ PHÁP Đại Lão Hòa Thượng Bổn Sư Linh Tháp.
                                           Nguyên sinh Đinh Hợi niên hưởng thọ cửu tuần chi tuế
                                           Viên tịch Ất Mão niên thập nhất nguyệt thập nhất nhật Hợi khắc.
Dịch nghĩa:
Tháp linh của Bổn sư là Đại lão Hoà thượng Tăng cang Pháp danh Chơn Phước, Pháp tự Đạo Thông, Pháp hiệu Huệ Pháp đời pháp thứ 40, nối tiếp tông chánh Lâm Tế, khai sơn chùa Sắc tứ Minh Tịnh.
                                           Sinh năm Đinh Hợi (1887), thế thọ 88 tuổi dương.
                                            Tịch năm Ất Mão (1975), tháng 11, ngày 11, giờ Hợi

* Trang 125 *

Tháp Tổ Huệ Pháp mới được trùng tu
ảnh Như Tịnh (2011)

* Trang 126 *

Tháp Tổ Huệ Pháp khi chưa trùng tu
 ảnh Thanh Nhã (1999)

* Trang 127 *

CHÙA MINH TỊNH TỪ TRIỆU KIẾN ĐẾN NAY
Nguyên thủy chùa là một thảo am tại đồi cát thuộc thôn Cẩm Thượng. Am nầy của hai Phật tử Trừng Quế và Trừng Quy cúng cho Thiền sư Chơn Phước Huệ Pháp vào năm Đinh Tỵ (1917).
Năm sau, Mậu Ngọ (1918), trên cơ sở thảo am, Thiền sư xây dựng thành ngôi chùa có đủ chánh điện, Đông Tây đường theo kiến trúc mới, xây xông lợp ngói khá xinh và trang nghiêm. Xong, làm lễ khai sơn đặt hiệu là Minh Tịnh tự.
Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), chùa được triều đình Huế ban biển Sắc tứ.
Năm 1963 mở đàn truyền giới tại chùa Minh Tịnh, trụ trì chùa nầy là Hòa thượng Chơn Phước Huệ Pháp làm Đường đầu.
 Tượng Phật Di Lặc trong khuôn viên chùa Minh Tịnh.
 ảnh Như Tịnh (2011)
Năm 1963, vì nhu cầu mở rộng phi đạo phi trường Quy Nhơn, chùa nằm trong vùng phải giải tỏa, bị bắt buộc phải thiên di đến khu đất

* Trang 128 *

cấp tại khu 6, là nơi mà chùa hiện tọa lạc. Đệ tử của Hòa thượng là Thiền sư Trí Giác phụ trách việc dời chùa, xây dựng lại địa chỉ mới một ngôi Tùng lâm khá khang trang mà quy mô còn tới ngày nay là ngôi Chánh điện và Đông Tây đường.
Năm Ất Hợi (1995) tái thiết Tổ đường khá đồ sộ như tôi đã nói trên.
TRỤ TRÌ CHÙA MINH TỊNH
1. Tổ khai sơn: Thiền sư Chơn Phước Huệ Pháp (có tiểu sử riêng).
2. Đương kim trụ trì: Thiền sư Như Hùng, tự Minh Oai, hiệu Trí Giác. Thế danh Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1942 tại An Thái, An Nhơn. Con ông Nguyễn Cư và bà Hồ Thị Nhu.
Hòa thượng Như Hùng Trí Giác, trụ trì chùa Minh Tịnh.
ảnh Như Tịnh (2011)
Năm 11 tuổi xuất gia tại chùa Minh Tịnh do Hòa thượng Huệ Pháp thế độ. Năm 1957 thọ Sa di tại chùa Nghĩa Phương, Nha Trang do Hòa thượng Bổn sư làm Đường đầu Hòa thượng. Năm 1961, khi vừa tròn hai mươi tuổi thọ Đại giới và thủ Sa di giới đàn chùa Từ Lâm, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi do Tăng cang Hòa thượng Thích Trí Hưng làm Đường đầu. Học đại học Sài Gòn. Trụ trì chùa Minh Tịnh từ năm 1975 đến nay. Hiện làm Chánh đại diện Phật giáo thành phố Quy Nhơn.

* Trang 129 *

TIỂTIỂU SỬ HÒA THƯỢNG CHƠN PHƯỚC HUỆ PHÁP
KHAI TỔ CHÙA MINH TỊNH

Thiền sư pháp danh Chơn Phước, Pháp tự Đạo Thông, Pháp hiệu Huệ Pháp, đời pháp thứ 40 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo. Thế danh Nguyễn Lộ, sinh ngày 13 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887) tại thôn Bồ Đề, xã Đức Quang, nay là xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Cha là Nguyễn Vĩnh, một thầy đồ thông cả dịch lý và toán số, mẹ là Lê Thị Long, con gái một lão Nho trong vùng. Thiếu thời học chữ Nho tại nhà do cha dạy. Lớn lên có duyên tiếp cận với các bậc tôn túc

Hòa thượng Chơn Phước Huệ Pháp
ảnh Như Tịnh (2011)

 như Hòa thượng Hoằng Thanh (chùa Cảnh Tiên); Hòa thượng Hoằng Tịnh (Phước Quang); Hòa thượng Hoằng Thạc (Chùa Thạch Sơn) mà có chí hướng xuất gia.
Năm Mậu Thân (1908), được song thân cho phép, Ngài xuất gia tại chùa Cảnh Tiên, do Hòa thượng Hoằng Thanh thế độ, lúc 22 tuổi.
Năm Tân Hợi (1911), thọ đại giới tại Giới đàn chùa Thiên Ấn do Hòa thượng Ấn Chí Hoằng Chương làm Đường đầu, lúc 24 tuổi là thủ Sa di của Giới đàn này. Sau đó tiếp tục học đạo tại hai chùa Thiên Ấn và Thạch Sơn.

* Trang 130 *

Năm Giáp Dần (1914), Sư vào Bình Định tham học với Quốc sư Phước Huệ tại đạo tràng Thập Tháp và với Pháp sư Phổ Huệ tại Đạo tràng Tịnh Lâm. Trong dịp nầy, Sư gặp hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Quy cúng Sư thảo am ở Quy Nhơn.
Năm Đinh Tỵ (1917), Sư được mời làm Đệ nhất Tôn chứng tại giới đàn chùa Trường Giác ở huyện Tuy Phước. Trong năm nầy, Sư xây dựng chùa Minh Tịnh trên cơ sở thảo am nói trên, năm sau lạc thành rồi làm lễ khai sơn.
Năm Giáp Tý (1924), Sư được thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn chùa Linh Phong, huyện Phù Cát.
Năm Ất Sửu (1925), Sư được thỉnh làm Yết-ma A-xà-lê tại giới đàn Phước Quang tỉnh Quảng Ngãi.
Năm Đinh Mão (1927), Sư được thỉnh làm Chánh kỳ trường Hương tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn do chủ Hương là trụ trì chùa nầy, Hòa thượng Trừng Chấn Chánh Nhơn mở. Đồng thời được mời làm Giáo thọ trong Ban giáo thọ do Quốc sư Phước Huệ làm chủ giảng.
Năm Quý Dậu (1933), Sư được đốc bộ đường Bình Phú cấp bằng trụ trì, cho miễn sai dịch.
Năm Giáp Tuất (1934), Sư cùng học đồ là Thiền sư Khánh Anh (cháu kêu Sư bằng cậu ruột) được Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (trụ sở đặt tại chùa Long Phước ở Trà Vinh) mời vào giảng dạy tại Phật học đường của hội này, khai giảng khóa đầu vào cuối năm 1934, do Hòa thượng Khánh Hòa làm Đốc giáo, Sư phụ trách điều khiển các lớp Ni sinh.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Sư được thỉnh làm Yết Ma A-xà-lê tại Giới đàn chùa Thiên Đức ở huyện Tuy Phước.
Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), triều đình Huế ban biển Sắc tứ cho chùa Minh Tịnh, cấp Độ điệp cử Ngài giữ chức Tăng cang tại chùa Minh Tịnh cùng ban Giới đao cho Ngài.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài được bầu làm chủ tịch Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Định.

* Trang 131 *

Năm Đinh Hợi (1947), Ngài được cung thỉnh làm chứng minh giới đàn tại chùa Thiên Bình tại huyện An Nhơn.
Năm Đinh Dậu (1957), chùa Nghĩa Phương, Nha Trang mở Tam đàn cụ túc, cung thỉnh Ngài làm Đường đầu Hòa thượng. Trong năm nầy, Hội Phật giáo Tịnh Độ tông Trung Phần thỉnh Ngài làm chứng minh Đại đạo sư.
Năm Kỷ Hợi (1959), Giáo hội Phật giáo Cổ truyền “Lục hòa tăng” và “Lục hòa Phật tử” tại Trung phần thỉnh Ngài làm Chứng minh cho đến năm 1975.
Năm Quý Mão (1963), Ngài mở giới đàn tại chùa Minh Tịnh do Ngài làm Đường đầu.
Ngài an nhiên thị tịch tại chùa Minh Tịnh vào giờ Hợi ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão (1975), thế thọ 88 tuổi dương, đạo thọ 64 năm. Nhập tháp phía Nam vườn chùa. Long vị thờ tại nhà Tổ ghi:
臨 濟 正 宗 四 十 世 敕 賜 明 靜 寺 僧 綱 諱 真 福  道  通 號 慧 法 大 老 和 尚
Phiên âm: 
Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Thế Sắc Tứ Minh Tịnh Tự Tăng Cang Húy CHƠN PHƯỚC thượng ĐẠO hạ THÔNG Hiệu HUỆ PHÁP Đại Lão Hoà Thượng.
Dịch nghĩa:
Đại lão Hòa thượng Pháp danh Chơn Phước, Pháp tự Đạo Thông, Pháp hiệu Huệ Pháp, đời thứ 40 tông chánh Lâm Tế làm Tăng cang chùa Minh Tịnh được Sắc tứ.
Hoà thượng Chơn Phước Huệ Pháp là một bậc danh đức có công lao hoằng dương chánh pháp trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo vừa qua
Chú thích:
Chùa Minh Tịnh được Hòa thượng Thích Trí Giác tiến hành trùng tu từ năm 1990 cho đến nay vẫn chưa hoàn tất. Kiến trúc chùa hoàn toàn mới theo phong cách Trung Hoa rất khang trang và mỹ lệ.

* Trang 132 *

Điệp thọ giới Sa di năm 1957 của HT. Trí Giác
 ảnh Như Tịnh (2011)
Bằng chức sự của giới đàn Minh Tịnh năm 1963.
ảnh Như Tịnh (2011)

* Trang 133 *

Điệp thọ giới Tỳ kheo năm 1961 của HT. Trí Giác. 
ảnh Như Tịnh (2011)
Pháp quyển của Tổ Huệ Pháp cấp cho HT.Trí Giác năm Nhâm Dần (1962). 
ảnh Như Tịnh (2011)

* Trang 134 *

(Lộc Xuyên Đặng Quý Địch. 2012. Những Ngôi Chùa Tiêu Biểu Trong tỉnh Bình Định. NXB Đà Nẵng.)  (nguồn: vnbet.vn)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên