Tam quan chùa Bạch Sa
 ảnh Như Tịnh (2011)
Chùa tọa lạc tại số 35 đường Biên Cương, phố Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn.
KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Trước chùa có Tam quan, xây đơn giản nhưng có vẻ đẹp thanh nhã. Giữa cổng chính có tượng bàn tay chuyển pháp luân, dưới tượng là bảng hiệu chùa đắp bằng Quốc ngữ, trên mặt hai trụ chính có liễn:
誰 為 門 外 人 漫 說 仁 山 和 智 水
能 作 道 中 者 閒 談 明 月 印 禪 關
Phiên âm:
Thùy vi môn ngoại nhân, mạn thuyết nhân sơn hòa trí thủy,
Năng tác đạo trung giả, nhàn đàm minh nguyệt ấn thiền quan. 

* Trang 135 *

Dịch nghĩa:
Ai người ngoài cửa nói nhiều về người nhân ưa chơi núi, người trí thích chơi nước?
Thường làm người giữa đường, rảnh rỗi bàn việc trăng sáng in cửa thiền.
Hai bên trụ biên có câu liễn:
道 可 道 即 謂 非 常 夢 幻 程 前 奔 過 客
名 無 名 貴 乎 靜 樂 真 空 門 裡 任 行 人
Phiên âm:
Đạo khả đạo tức vị phi thường, mộng huyễn trình tiền bôn quá khách,
Danh vô danh quý hồ tịnh lạc, chơn không môn lý nhậm hành nhân.
Dịch nghĩa:
Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến, trò đời như giấc mộng bày trước mắt người khách vội qua trước ngõ,
Cái tên không có tên để gọi sao cho bằng sự vắng lặng hoàn toàn, yên vui hoàn toàn của cảnh giới Niết Bàn, bên trong cửa, cái rỗng không chân thật nhận lấy người đi đường.
Câu số 1, nửa sau vế trước dùng chữ trong Luận ngữ dẫn lời Đức Khổng Tử: “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy” = người có lòng ưa chơi núi, kẻ mưu trí thích chơi nước.
Câu số 2, cả hai vế đều mượn chữ trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử: “Đạo khả đạo phi thường đạo….Vô, danh thiên địa chi thủy” = Đạo diễn tả được không phải đạo vĩnh cửu…”Không” là tên gọi bản thủy của trời đất.
Tác giả hai câu nầy là Hòa thượng Kế Châu đã viên tịch.
Bên trong ngõ, qua khỏi vuông sân trước là tới chánh điện.
Chánh điện là một ngôi nhà ngang, hướng Đông Nam, dài 8m, rộng 6m kể cả hè, cao 8m, tường xây gạch, mái chái điệp ốc, đứng trên chân đế cao 1m, hai bên có lầu chuông, lầu trống.

* Trang 136 *

Toàn cảnh chùa Bạch Sa
 ảnh Như Tịnh (2011)
Bên trong chánh điện, tượng Đức Bổn Sư được tôn trí trên bệ thờ ở gian giữa, hai bên có câu liễn:
白 海 澄 波 星 月 具 呈 真 界 眼
沙 門 雲 靜 山 河 全 露 法 王 身
Phiên âm:
Bạch hải trừng ba, tinh nguyệt cụ trình chân giới nhãn,
Sa môn vân tịnh, sơn hà toàn lộ pháp vương thân.
Dịch nghĩa:
Biển trắng sóng trong, đáy nước trăng sao chân nhãn hiện,
Cửa chùa mây lặng, giữa vùng sông núi pháp thân bày.
Phương trượng và nhà Tổ ở phía sau Chánh điện.
Trong nhà Tổ, gian giữa thờ Tổ khai sơn và vị trụ trì tiền nhiệm, hai bên thờ linh. Tại đây có câu liễn:
四 七 西 乾 丞 祖 道
二 三 東 震 紹 宗 風

* Trang 137 *

Chánh điện chùa Bạch Sa
ảnh Như Tịnh (2011)
Phiên âm:
Tứ thất Tây càn thừa Tổ đạo,
Nhị tam Đông chấn thiệu tông phong 2
Dịch nghĩa:
Hai tám vị Tây Thiên thừa truyền đạo Tổ,
Chẵn sáu ngài Đông Độ nối giữ nếp nhà.
Tăng phòng, Trai phòng và Trù phòng ở phía Đông.
Tháp Tổ khai sơn ở trong vườn chùa, phía hữu Chánh điện.

 2Cu liễn vế trước nói về 28 vị tổ Thiền tông Thiên Trúc, bắt đầu từ ngài Ma-ha-ca-diếp đến ngài Bồ-đề-đạt-ma. Vế sau nói tới 6 vị tổ Thiền tông Trung Hoa, bắt đầu từ ngài Bồ-đề-đạt-ma tới ngài Huệ Năng. Vế trước có từ Càn là tên quẻ Càn , phương vị quẻ này ở Tây Bắc, trỏ Thiên Trúc. Quẻ này đứng đầu 8 quẻ nên cũng nhằm chỉ nơi đầu tiên phát sinh Phật giáo Thiền tông. Vế sau có chữ Chấn là tên quẻ Chấn, phương vị quẻ này ở hướng Đông, trỏ Trung Hoa. Lời thốn quẻ nầy viết: Chấn hanh…chấn kinh bách lý, nghĩa là: sấm động thì hanh thông…sấm động trăm dặm, tác giả dẫn dụng hàm ý: Phật giáo Thiền tông từ Thiên Trúc truyền sang Trung Quốc thì phát triển rực rỡ.
 

* Trang 138 *

Tổ đường chùa Bạch Sa
ảnh Như Tịnh (2011)
CHÙA BẠCH SA TỪ TRIỆU KIẾN ĐẾN NAY
Nguyên thủy chùa tọa lạc phường 3 thôn Cẩm Thượng, trên khu đất của một Tỳ kheo Ni húy Trừng Nga tự Giải Châu cúng cho Thiền sư Như Huệ Hoằng Thông vào năm Đinh Tỵ (1917), nhà Sư nầy xuất lực cùng bổn đạo địa phương xây dựng nên ngôi Già lam xây gạch lợp ngói, lạc thành rồi khai sơn vào năm Mậu Ngọ (1918), đặt tên là Bạch Sa Tự.
Chùa được triều đình Huế ban biển Sắc tứ vào năm Bảo Đại thứ 13 (1938), biển Sắc tứ không còn, hiện còn bản trích lục của Bình Phú Tổng đốc ký ngày 12 tháng 9 năm Bảo Đại 13 (1938) (xem phụ lục số 6).
Năm 1963, vì nhu cầu mở rộng phi trường Quy Nhơn, chùa nằm trong vùng bị giải tỏa, nên bắt buộc thiên di tới khu đất được cấp tại khu 6 Quy Nhơn (nay là chỗ mà chùa đang tọa lạc). Đệ tử của Tổ khai sơn là trụ trì Giác Nguyên thực hiện dời chùa, xây dựng Tự sở rồi lạc thành trong năm.

* Trang 139 *

Năm 1996, đệ tử của Thượng tọa Giác Nguyên là Thiền sư Đồng Trụ, đương kim trụ trì xây Tam quan và tái thiết Chánh điện như hình ảnh ghi nhận trong bài.
TRỤ TRÌ CHÙA BẠCH SA TRẢI CÁC ĐỜI
1. Tổ khai sơn: Thiền sư Như Huệ Hoằng Thông (có tiểu sử riêng).
2. Trụ trì:  Thiền sư Thị Niệm, pháp tự Giác Nguyên, pháp hiệu Từ Năng, đời pháp thứ 42 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Hòa thượng Như Huệ Hoằng Thông.
……
Hòa thượng Thị Niệm Giác Nguyên
ảnh Như Tịnh (2011)
Sư thế danh Lê Hồ, sinh năm Tân Hợi (1911) tại thôn An Chánh, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn).
Năm 1918 xuất gia tại chùa Bạch Sa do Hòa thượng Hoằng Thông thế độ. Học Bổn sư một thời gian rồi ra Huế học tại các Phật học đường Trúc Lâm, Tây Thiên. Thọ đại giới tại Huế.
Làm trụ trì chùa Bạch Sa từ năm 1958. Phụ trách dời chùa Bạch Sa đến địa điểm hiện nay.
Viên tịch tại chùa Bạch Sa vào ngày mồng 7 tháng 3 năm Mậu Thìn (1988), thế thọ 77 tuổi dương tức 78 tuổi âm. Xuất gia 70 năm. Nhập tháp tại bên tả chánh điện chùa Bạch Sa.
Long vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
臨 濟 四 十 二 世 遷 移 再 設 敕 賜 白 沙 寺 諱 是 念 字 覺 源 號 慈 能 上 座 蓮 座
Phiên âm: 
Lâm Tế Tứ Thập Nhị Thế Thiên Di Tái Thiết Sắc Tứ Bạch Sa Tự Húy THỊ NIỆM Tự GIÁC NGUYÊN Hiệu TỪ NĂNG Thượng Tọa Liên Tòa.

* Trang 140 *

Dịch nghĩa: 
Tòa sen của Thượng tọa pháp danh Thị Niệm, Pháp tự Giác Nguyên, Pháp hiệu Từ Năng, đời pháp thứ 42 tông chánh Lâm Tế, trụ trì thiên di tái thiết chùa Sắc tứ Bạch Sa.
3. Đương kim trụ trì: Thiền sư Đồng Trụ, tự Thông Quang, hiệu Chánh Tri, đời pháp thứ 43 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Thượng tọa Giác Nguyên, kế vị Sư phụ làm trụ trì chùa Bạch Sa sau khi Bổn sư quy tịch năm 1988.
Thượng tọa Đồng Trụ Chánh Tri
ảnh Như Tịnh (2011)

Sư thế danh Lê Công Cứ, sinh năm 1947 tại xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, con ông Lê No và bà Ngô Thị Ô.
Năm 1964, xuất gia tại chùa Bạch Sa do Thượng tọa Giác Nguyên thế độ, lúc đó Sư vừa tròn 17 tuổi.
Năm 1974, Sư thọ Đại giới tại giới đàn chùa Huệ Nghiêm, Sài Gòn do Hòa thượng Hải Tràng làm Đường đầu.
Từng tu học tại các Phật học viện Nguyên Thiều, Phật học viện Hải Tràng. Về văn hóa tốt nghiệp cấp 3, về Phật học thì trình độ Cao đẳng Phật học.
Sau năm 1975, Sư trở về Bình Định nhận trụ trì chùa Tòng Lâm ở xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước.
Năm 1988, Bổn sư quy tịch, Sư được di chúc làm trụ trì chùa Bạch Sa từ ấy đến nay. Sư hiện làm Phó đại diện Phật giáo thành phố Quy Nhơn.

* Trang 141 *

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG NHƯ HUỆ HOẰNG THÔNG
KHAI SƠN CHÙA BẠCH SA
Thiền sư Pháp danh Như Huệ, Pháp tự Thanh Nguyên, Pháp hiệu Hoằng Thông, còn có một hiệu nữa là Trí Quả, đời pháp thứ 41 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo.
Theo tờ phái thế độ do Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang, trụ trì chùa Sơn Long, Tuy Phước, cấp ngày Rằm tháng 2 năm Tân Hợi (1911) thì Sư tên là Nguyễn Văn Tặng, sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn Vĩnh Định, tổng Xuân An, huyện Phù Cát, phủ Hoài Nhơn.
…..
Hòa thượng Như Huệ Hoằng Thông
ảnh Như Tịnh (2009)
Nhưng theo Độ Điệp của Bộ Lễ cấp ngày 19 tháng Chạp năm Bảo Đại thứ 7 (1932) thì Sư có tên là Nguyễn Độ, vào năm nầy thì Sư được 51 tuổi âm, tức sinh năm Nhâm Thân (1872) tại thôn Vĩnh An Định, tổng Háo Đức, phủ An Nhơn.
Như thế từ lúc nhỏ Sư có tên là Tặng, khi thành niên khai tên để ghi vào Đinh bạ là Độ, tuổi được đôn trong dịp nầy hoặc được quan địa phương hợp thức hóa cho đủ tuổi xin cấp bằng Tăng cang trước năm 1932. Vào thời điểm nầy (1932), thôn Vĩnh Định của Phù Cát đã nhập với thôn An Định của An Nhơn thành thôn Vĩnh An Định thuộc phủ An Nhơn. Nay để chính xác thì niên kỷ và quê quán nên theo tờ phái thế độ mà ghi là: Sư có tên thường gọi là Nguyễn Văn Tặng, tên đinh bạ là Nguyễn Độ, sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn Vĩnh Định thuộc huyện Phù Cát.

* Trang 142 *

Thân sinh Sư là cụ ông Nguyễn Văn Doanh và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huân.
Căn cứ tờ phái thế độ thì năm 12 tuổi âm, tức năm Ất Tỵ (1905), Sư xuất gia tại chùa Sơn Long, Tuy Phước với pháp danh Như Huệ. Bốn năm sau, được Bổn sư là Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang làm lễ thế độ vào năm Canh Tuất (1910) với pháp tự Thanh Nguyên. Tiếp tục tu học 6 năm nữa mới được Bổn sư cho thọ Đại giới và phú pháp làm Đại sư vào năm Bính Thìn (1916) với pháp hiệu Hoằng Thông, hiện còn điệp Phú pháp cấp ngày tốt tháng 5 năm Bính Thìn (1916).
Năm Đinh Tỵ (1917), Ni sư Trừng Nga Giải Châu cúng cho Sư khoảng đất tại phường 3 thôn Cẩm Thượng, Quy Nhơn, Sư đến đó cùng bổn đạo địa phương kiến tạo ngôi Già lam, lạc thành và khai sơn đặt tên là Bạch Sa Tự vào năm Mậu Ngọ (1918).
Năm Đinh Mão (1927), Hòa thượng Trừng Chấn Chánh Nhơn chùa Long Khánh, Quy Nhơn mở trường Hương 3 tháng tại chùa nầy, Sư được mời làm Giáo thọ trong Ban giảng huấn do Quốc sư Phước Huệ làm Chủ giảng.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Sư cầu pháp với Quốc sư Phước Huệ được Quốc sư phú pháp làm Đại sư với pháp hiệu Trí Quả, hiện còn điệp phú pháp cấp ngày Rằm tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1929).
Năm Nhâm Thân (1932), Sư được triều đình cử làm Tăng cang chùa Bạch Sa, cấp 1 bản Độ điệp và thanh Giới đao. Độ điệp đề ngày 19 tháng Chạp năm Bảo Đại thứ 7 (1932) hiện còn, tờ thông tri sự vụ trên do Tổng đốc Bình Phú ký ngày 6 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 8 (1933) cũng còn, còn Giới đao được lưu giữ tại chùa Bạch Lộc. Cũng trong năm nầy, thể theo lời thỉnh cầu của ông Võ Chuẩn, huấn đạo tỉnh Kontum Ngài đã lên Kontum cử hành lễ Kỳ siêu và đặt đá khởi công xây dựng chùa Bác Ái.
Năm Đinh Sửu (1937), Sư được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn chùa Tịnh Lâm, Phù Cát do Hòa thượng Huyền Giác làm Đường đầu.
Năm Mậu Dần (1938), chùa Bạch Sa do Sư khai sơn được triều đình Ban sắc tứ. Biển sắc tứ không còn, chỉ còn tờ trích lục của Tổng đốc Bình Phú ký ngày 12 tháng 9 năm Bảo Đại thứ 13 (1938).

* Trang 143 *

Từ năm 1938 đến năm 1954, Ngài hành đạo tại quê nhà và là một trong những vị Cao tăng của Bổn tỉnh, tích cực hoạt động trong phong trào chấn hưng Phật giáo.
Năm Giáp Ngọ (1954), quân đội viễn chinh Pháp ở chiến dịch Át-lăng từ thị trấn Sông Cầu, Phú Yên theo đường thủy tiến ra cửa biển Quy Nhơn rồi đổ bộ lên thành phố nầy. Ngài và tăng chúng trong chùa kịp thời tản cư lên trú tại chùa Lộc Hòa ở thôn Tấn Lộc, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước. Năm sau, đệ tử hồi cư nhưng Ngài vẫn ở chùa Lộc Hòa. Mấy năm sau, có người trong thôn là Phán Trấp đào ao nuôi cá trước chùa, phạm nhằm hướng chánh, Ngài bèn dời chùa lên đầu thôn gần quốc lộ 1, dựng thành sở mới, làm lễ khai sơn đặt tên là Bạch Lộc Tự, lấy hai chữ đầu của hai chùa Bạch Sa và Lộc Hòa ghép thành.
Năm 1968, Giáo hội tỉnh Bình Định mở giới đàn tại chùa Long Khánh đã cung thỉnh Ngài chứng minh cho Đàn giới này.
Vào ngày mồng 7 tháng 12 năm Nhâm Tý (1972), Ngài thị tịch, thế thọ 78 tuổi dương, 79 tuổi âm. Kim quan Ngài được nhập bảo tháp tại chùa Bạch Sa. Bia tháp và long vị ghi:
敕 賜 白 沙 寺 開 山 堂 上 敕 授 僧 綱 欽 頒 刀 牒 臨 濟 四 十 一 世 諱 如 慧 號 弘 通 大 老 和 尚 蓮 座.
Phiên âm:
Sắc Tứ Bạch Sa Tự Khai Sơn Đường Thượng Sắc Thọ Tăng Cang Khâm Ban Đao Điệp Lâm Tế Tứ Thập Nhất Thế Húy NHƯ HUỆ Hiệu HOẰNG THÔNG Đại Lão Hòa Thượng Liên Tòa.
Dịch nghĩa:
Tòa sen của Đại lão Hòa thượng Pháp danh Như Huệ, Pháp hiệu Hoằng Thông, được cấp bằng Tăng cang và ban Giới đao Độ điệp, đời pháp thứ 41 tông Lâm Tế, khai sơn chùa Bạch Sa được Sắc tứ.
PHỤ LỤC
Tiểu dẫn: Tư liệu liên quan tới con người, cuộc đời và đạo nghiệp của Hòa thượng Như Huệ Hoằng Thông hiện được trân tàng tại chùa Bạch Sa, 85 Biên Cương, Quy Nhơn gồm có:
1. Phái thế độ do HT. Phước Quang cấp ngày 15 tháng 2 năm Tân Hợi (1911).

* Trang 144 *

2. Điệp phú pháp do HT. Phước Quang cấp ngày tốt tháng 5 năm Bính Thìn (1916).
3. Điệp phú pháp do Quốc sư Phước Huệ cấp ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1929).
4. Độ điệp do Lễ Bộ cấp ngày 19 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 7, Nhâm Thân (1932).
5. Trích lục cấp sự do Tổng đốc Bình Phú ký ngày 6 tháng 1 năm Bảo Đại 8 (1933).
6. Trích lục Sắc tứ do Tổng đốc Bình Phú kỳ ngày 12 tháng 9 năm Bảo Đại 13 (1938).
Sáu tư liệu trên đây chẳng những rất cần cho người viết tiểu sử Hòa thượng Hoằng Thông mà cũng rất cần cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử Phật giáo, lịch sử đất nước, phong tục tập quán của dân tộc ta trong tiền bán thế kỷ 20. Bởi lẽ đó, tôi đã photo, chụp ảnh, sao chép rồi phiên dịch tất cả. Sau đây lần lượt giới thiệu từng tư liệu một.
 
1.PHÁI THẾ ĐỘ
臨 濟 正 宗 祝 聖 法 派
偈 雲:
明 實 法 全 彰
印 真 如 是 同
祝 聖 壽 天 久
祈 國 祚 地 長
三 十 四 世 祝 聖 寺 沙 門 諱 上 明 下 海 號 得 智 法 寶 和 尚
三 十 五 世 福 林 寺 沙 門 諱 上 實 下 營 號 正 顯 霑 恩 和 尚
三 十 六 世 慈 光 寺 沙 門 諱 上 法 下 專 號 律 傳 妙 嚴 和 尚
三 十 七 代  o  o3 寺 沙 門 諱 上 全 下 信 號 德 誠 大 老 和 尚4

 3 Vòng tròn thay thế hai chữ bỏ trống ở nguyên bản
4 Từ đời 37 phái Chúc Thánh qua đời 39, thiếu đời 38. Ở điệp phú pháp tiếp theo đây thấy đời 38 là Thiền Sư Chương Bảo Liễu Tạng ( Trụ trì chùa Khánh Lâm) mà không nhắc tới Thiền sư Chương Nghĩa Thanh Nguyên có công thiên di cải hiệu Giang Long tự thành Sơn Long tự.Hoặc giả chùa Sơn Long chỉ được mới lập dưới đời 39 mà trụ trì là Hòa Thượng Ấn Hải Viên Thông? Chờ nghiên cứu xác minh sau.

* Trang 145 *

三 十 九 世 山 龍 寺 沙 門 諱 上 印 下 海 號 圓 通 本 師 和 尚
山 龍 寺 四 十 世 沙 門 諱 上 真 下 心 號 福 光 為 本 師
示 曰
從 上 諸 祖 相 傳 入 道 初 門 先 稟 三 皈 十 戒 三 皈 者 皈 依 三 寶 也 十 戒 者 一 不 殺 生 二 不 偷 盜 三 不 婬 四 不 妄 語 五 不 飲 酒 六 不 著 香 花 鬘 七 不 歌 唱 技 樂 八 不 坐 高 廣 大 牀 九 不 非 時 食 十 不 捉 持 生 像 金 銀 寶 物 。 今 此 十 戒 汝 對 心 持 逑 近 階 接 必 然 通 達
今 有 大 南 國 懷 仁 府 符 吉 縣 春 安 總 永 定 邨 阮 文 贈 元 生 於 甲 午 年 行 庚 十 二 歲 投 於 山 龍 寺 出 家 學 業 至 庚 戌 年 正 月 十 五 日 於 本 寺 首 禮 本 師 諱 上 真 下 心 號 福 光 為 師 剃 度 弟 子 法 名 如 慧 汝 從 今 背 塵 修 戒 定 慧 出 俗 患 貪 瞋 癡 植 今 世 之 善 根 樹 將 來 之 福 果 守 一 誠 中 真 佛 弟 子 須 至 派 者
有 派 給 剃 度 弟 子 法 名 如 慧 字 清 源 收 執
歲 次 辛 亥 年 二 月 十 五 日 書
Phiên âm: 
Lâm Tế Chánh Tông Chúc Thánh Pháp Phái
Kệ Vân:
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương –  Ấn Chơn Như Thị Đồng
Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu – Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Tam thập tứ thế, Chúc Thánh tự, Sa môn húy thượng Minh hạ Hải, hiệu Đắc Trí Pháp Bảo Hòa thượng.
Tam thập ngũ thế, Phước Lâm tự, Sa môn húy thượng Thiệt hạ Dinh, hiệu Chánh Hiển Triêm Ân Hòa thượng.
Tam thập lục thế, Từ Quang tự, Sa môn húy thượng Pháp hạ Chuyên, hiệu Luật Truyền Diệu Nghiêm Hòa thượng.
Tam thập thất đại,…tự, Sa môn húy thượng Toàn hạ Tín, hiệu Đức Thành đại lão Hòa thượng.
Tam thập cửu thế, Sơn Long tự, Sa môn húy thượng Ấn hạ Hải, hiệu Viên Thông, Bổn sư Hòa thượng.
Sơn Long tự, tứ thập thế, Sa môn húy thượng Chơn hạ Tâm, hiệu

* Trang 146 *

Phước Quang, vi Bổn sư. Thị viết:
Tùng thượng chư Tổ, tương truyền nhập đạo, sơ môn tiên bẩm, Tam quy Thập giới. Tam quy giả, quy y Tam Bảo. Thập giới giả: Nhất bất sát sanh; Nhị bất thâu đạo; Tam bất dâm; Tứ bất vọng ngữ; Ngũ bất ẩm tửu; Lục bất trước hương hoa man; Thất bất ca xướng kỹ nhạc; Bát bất tọa cao quảng đại sàng; Cửu bất phi thời thực; Thập bất tróc trì sanh tượng kim ngân bảo vật. Kim thử thập giới, nhĩ đối tâm trì, cầu cận giai tiếp, tất nhiên thông đạt.
Kim hữu Đại Nam quốc, Hoài Nhơn phủ, Phù Cát huyện, Xuân An tổng, Vĩnh Định thôn Nguyễn Văn Tặng, nguyên sanh ư Giáp Ngọ niên, hành canh thập nhị tuế đầu vu Sơn Long tự, xuất gia học nghiệp. Chí Canh Tuất niên, chánh nguyệt thập ngũ nhật, vu bổn tự thủ lễ Bổn sư, húy thượng Chơn hạ Tâm hiệu Phước Quang vi sư, thế độ đệ tử Pháp danh Như Huệ.
Nhữ tùng kim bối trần, tu Giới Định Tuệ, xuất tục hoạn Tham Sân Si, thực kim thế chi phước căn, thụ tương lai chi phước quả, thủ nhất thành trung, chơn thật Phật đệ tử, tu chí phái giả.
Hữu phái cấp thế độ đệ tử, Pháp danh Như Huệ, Pháp tự Thanh Nguyên thâu chấp.
Tuế thứ Tân Hợi niên, nhị nguyệt, thập ngũ nhật, thư.
Dịch nghĩa:
Tông Chánh Lâm Tế, Phái Pháp Chúc Thánh
Kệ rằng:
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương –  Ấn Chơn Như Thị Đồng
Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu – Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Đời pháp thứ 34, Chùa Chúc Thánh, Sa môn pháp danh Minh Hải, hiệu Đắc Trí Pháp Bảo Hòa thượng.
Đời pháp thứ 35, Chùa Phước Lâm, Sa môn pháp danh Thiệt Dinh, hiệu Chánh Hiển Triêm Ân Hòa thượng.
Đời pháp thứ 36, Chùa Từ Quang, Sa môn pháp danh Pháp Chuyên, hiệu Luật Truyền Diệu Nghiêm Hòa thượng.
Đời pháp thứ 37, Chùa…, Sa môn pháp danh Toàn Tín, hiệu Đức Thành Đại lão Hòa thượng.
Đời pháp thứ 39, Chùa Sơn Long, Sa môn pháp danh Ấn Hải, hiệu

* Trang 147 *

Viên Thông Bổn sư Hòa thượng.
Chùa Sơn Long, đời pháp thứ 40, Sa môn pháp danh Chơn Tâm, hiệu Phước Quang làm thầy. Bảo rằng:
Trở lên, chư Tổ truyền nhau rằng người bắt đầu vào cửa đạo phải được dạy cho biết Tam quy Thập giới để thọ trì. Tam Quy là quy y Tam Bảo vậy. Thập giới có: Một là không giết hại sinh vật. Hai là không trộm cắp. Ba là không dâm dục. Bốn là không nói bậy. Năm là không uống rượu. Sáu là không xức nước hoa, cài hoa lên đầu. Bảy là không ca múa diễn trò cũng không xem các trò múa hát. Tám là không ngồi giường cao lớn rộng. Chín là không ăn chẳng phải giờ ăn (không ăn trước hoặc sau giờ Ngọ). Mười là không làm cho có tiền bạc vật báu cũng không cất giữ tiền bạc vật báu.
Nay nói mười điều răn nầy, ngươi hãy dốc lòng tuân giữ, sao cho gần bậc lên nhà (đăng đường) thì tất nhiên thông hiểu thấu đáo.
Nay có người ở nước Đại Nam, phủ Hoài Nhơn, huyện Phù Cát, tổng Xuân An, thôn Vĩnh Định là Nguyễn Văn Tặng, nguyên sinh năm Giáp Ngọ (1894), lúc được 12 tuổi đã đầu thiền nơi chùa Sơn Long xuất gia học đạo. Đến năm Canh Tuất (1910), tháng Giêng ngày Rằm, Bổn sư đứng đầu chùa này tên húy là Chơn Tâm hiệu Phước Quang làm lễ thế độ cho đệ tử pháp danh là Như Huệ.
Người theo bạn đồng học hiện nay mà cùng tu Giới Định Huệ, lìa khỏi ba mối họa Tham Sân Si, trồng căn lành trong đời nầy, tạo quả phước cho kiếp sau, giữ một lòng thành, thật là đệ tử Phật, cho nên có phái nầy vậy.
Phái cấp cho đệ tử thọ lễ thế độ Pháp danh Như Huệ, tự Thanh Nguyên nhận lấy phái nầy.
Viết vào ngày Rằm tháng hai năm Tân Hợi (1911).
2. ĐIỆP PHÓ PHÁP 1.
正 法 眼 藏
南 無 本 師 釋 迦 牟 尼 佛
第 一 祖 摩 訶 迦 葉 尊 者
第 二 祖 阿 難 陀 尊 者
第 三 祖 商 那 和 修 尊 者
傳 至

* Trang 148 *

第 二 十 八 祖 菩 提 達 麼 尊 者
船 海 而 來 開 東 震 旦 稱 為
第 一 祖 達 麼 大 師
第 二 祖 慧 可 大 師
第 三 祖 僧 燦 大 師
第 四 祖 道 信 大 師
第 五 祖 弘 忍 大 師
第 六 祖 慧 能 大 師
傳 至
第 七 祖 南 嶽 懷 讓 禪 師
傳 至
第 二 十 七 臨 濟 義 玄 禪 師
傳 至
第 三 十 二 祖 天 童 堂 上 圓 悟 和 尚
第 三 十 三 世 開 創 十 塔 開 山 國 恩 超 白 壽 尊 和 尚
第 三 十 四 世 明 海 得 智 和 尚
第 三 十 五 世 實 營 霑 恩 和 尚
第 三 十 六 世 法 專 妙 嚴 和 尚
第 三 十 七 世 全 信 德 誠 和 尚
第 三 十 八 世 彰 寶 了 藏 和 尚
第 三 十 九 世 印 海 圓 通 和 尚
第 四 十 世 真 心 福 光 和 尚
示 曰
昔 我 釋 迦 如 來 將 涅 槃 辰 以 正 法 眼 藏 涅 槃 妙 心 付 囑 摩 訶 迦 葉 尊 者 為 第 一 祖 續 佛 慧 命 化 度 群 生 接 引 大 乘 傳 佛 妙 道 為 教 外 別 傳 直 下 承 當 見 性 成 佛 代 代 相 承 傳 燈 法 眼 自 行 化 他 紹 隆 佛 種 乃 至 於 我 親 承 祖 道 宗 旨 妙 心 事 理 融 通 性 相 無 礙 傳 持 此 道 弘 法 利 生 今 汝 具 有 此 心 佩 大 乘 道 求 佛 正 因 當 來 覺 果 化 物 利 生 同 為 佛 種 廣 利 人 天 齊 成 正 覺 是 故 我 將 此 法 付 囑 與 汝 諦 聽 偈 曰:
法 本 汝 周 全
莫 問 叩 別 傳

* Trang 149 *

澄 渟 心 月 見
法 界 一 般 禪
汝 今 受 持 此 法 則 成 佛 果 非 遙 發 大 乘 心 四 弘 誓 願 上 求 佛 道 下 化 有 情 悲 智 運 行 自 他 成 滿 以 酬 佛 祖 深 恩 不 忘 法 乳 護 持 三 寶 傳 佛 妙 心 世 世 生 生 如 佛 祖 學 如 是 尊 重 欽 命 行 持
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 世 山 龍 堂 諱 真 心 號 福 光 和 尚
法 付
法 子 四 十 一 世 諱 如 慧 號 弘 通 大 師
天 運 丙 辰 年 五 月 吉 日 書 付
Phiên âm:
CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đệ nhất tổ Ma Ha Ca Diếp Tôn giả.
Đệ nhị tổ A Nan Đà Tôn giả.
Đệ tam tổ Thương Na Hòa Tu Tôn giả.
Truyền chí:
Đệ nhị thập bát tổ Bồ Đề Đạt Ma Tôn giả.
Hàng hải nhi lai, khai Đông chấn đán, xưng vi:
Đệ nhất tổ Đạt Ma Đại sư.
Đệ nhị tổ Huệ Khả Đại sư.
Đệ tam tổ Tăng Xán Đại sư.
Đệ tứ tổ Đạo Tín Đại sư.
Đệ ngũ tổ Hoằng Nhẫn Đại sư.
Đệ lục tổ Huệ Năng Đại sư.
Truyền chí:
Đệ thất tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng Thiền sư
Truyền chí:
Đệ nhị thập thất Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền sư.
Truyền chí:
Đệ tam thập nhị tổ Thiên Đồng đường thượng Viên Ngộ Hòa thượng.

* Trang 150 *
device

Đệ tam thập tam thế, khai sáng Thập Tháp, khai sơn Quốc Ân, Siêu Bạch Thọ Tôn Hòa thượng.
Đệ tam thập tứ thế Minh Hải Đắc Trí Hòa thượng.
Đệ tam thập ngũ thế Thiệt Dinh Triêm Ân Hòa thượng.
Đệ tam thập lục thế Pháp Chuyên Diệu Nghiêm Hòa thượng.
Đệ tam thập thất thế Toàn Tín Đức Thành Hòa thượng.
Đệ tam thập bát thế Chương Bảo Liễu Tạng Hòa thượng.
Đệ tam thập cửu thế Ấn Hải Viên Thông Hòa thượng.
Đệ tứ thập thế Chơn Tâm Phước Quang Hòa thượng.
Thị viết:
Tích ngã Thích Ca Như Lai tương Niết bàn thời, dĩ chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm phú chúc Ma ha Ca Diếp Tôn giả vi Đệ nhất tổ, tục Phật huệ mạng, hóa độ quần sinh, tiếp dẫn đại thừa, truyền Phật diệu đạo, vi giáo ngoại biệt truyền, trực hạ thừa đương, kiến tánh thành Phật, tự hành hóa tha, thiệu long Phật chủng. Nãi chí ư ngã, tương thừa Tổ đạo, tông chỉ diệu tâm, sự lý dung thông, tánh tướng vô ngại, truyền trì thử đạo, hoằng pháp lợi sanh. Kim nhữ: cụ hữu thử tâm, hội đại thừa đạo, cầu Phật chánh nhân, đương lai giác quả, hóa vật lợi sanh, đồng vi Phật chủng, quảng lợi nhân thiên, tề thành chánh giác. Thị cố, ngã tương thử pháp, phú chúc dữ nhữ, đế thính kệ viết:
Pháp bổn nhữ chu toàn
Mạc hướng khấu biệt truyền
Trừng đình tâm nguyệt hiện
Pháp giới nhất ban thiền.
Nhữ kim thọ trì thử pháp, tắc thành Phật quả phi dao phát đại thừa tâm, tứ hoằng thệ nguyện, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa hữu tình, bi trí vận hành, tự tha thành mãn, dĩ thù Phật tổ thâm ân, bất vong pháp nhũ, hộ trì Tam bảo, truyền Phật diệu tâm, thế thế sanh sanh, như Phật tổ học, như thị tôn trọng, khâm mệnh hành trì.
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Thế, Sơn Long Đường húy CHƠN TÂM hiệu PHƯỚC QUANG Hòa Thượng.
Pháp phú:
Pháp Tử Tứ Thập Nhất Thế húy NHƯ HUỆ hiệu HOẰNG THÔNG

* Trang 151 *

Đại Sư.
Thiên vận Bính Thìn niên ngũ nguyệt cát nhật thư phú.
Dịch nghĩa:
CHỖ CHỨA YẾU ĐIỂM CỦA CHÁNH PHÁP
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tổ thứ nhất:                        Tôn giả Ma ha Ca Diếp.
Tổ thứ nhì:              Tôn giả A Nan Đà.
Tổ thứ ba:               Tôn giả Thương Na Hòa Tu.
Truyền đến:
Tổ thứ 28:               Tôn giả Bồ Đề Đạt Ma.
Vượt biển sang Trung Quốc, bắt đầu mở mang Thiền tông tại Đông Độ, được tôn xưng là:
Tổ thứ nhất:                        Đại sư Đạt Ma.
Tổ thứ hai:              Đại sư Huệ Khả.
Tổ thứ ba:               Đại sư Tăng Xán.
Tổ thứ tư:                Đại sư Đạo Tín.
Tổ thứ năm:                        Đại sư Hoằng Nhẫn.
Tổ thứ sáu:              Đại sư Huệ Năng.
Truyền đến
Tổ thứ bảy:             Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng.
Truyền đến
Tổ thứ 27:              Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền.
Truyền đến
Tổ thứ 325            Hòa thượng Viên Ngộ trụ trì chùa Thiên Đồng.
Tổ thứ 33:             Hòa thượng Siêu Bạch Thọ Tôn khai sáng chùa Thập Tháp, khai sơn chùa Quốc Ân.
Tổ thứ 34:             Hòa thượng Minh Hải Đắc Trí.
Tổ thứ 35 6:             Hòa thượng Thiệt Dinh Triêm Ân.

5 Theo như “điệp phú pháp” để ngài Viên Ngộ thuộc đời thứ 32 là nhầm. Ngài thuộc đời pháp thứ 31: Thiên Đồng Mật Vân Viên Ngộ Hòa thượng, kế đó đời 32 là ngài Bổn Khao Khoáng Viên và đời 33 mới đến ngài Siêu Bạch Thọ Tôn.(Như Tịnh chú) 

* Trang 152 *

Tổ thứ 36:               Hòa thượng Pháp Chuyên Diệu Nghiêm.
Tổ thứ 37:               Hòa thượng Toàn Tín Đức Thành.
Tổ thứ 38:               Hòa thượng Chương Bảo Liễu Tạng.
Tổ thứ 397             Hòa thượng Ấn Hải Viên Thông.
Tổ thứ 40:               Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang.
Bảo rằng:
Xưa Đức Bổn Sư Thích Ca Như Lai sắp nhập Niết bàn, bèn đem chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm phú cho Tôn giả Ma ha Ca Diếp làm vị Tổ thứ nhất nối tiếp huệ mạng Đức Phật mà dạy dỗ mọi loài, dắt dẫn lên đại thừa, đem đạo diệu huyền của Phật truyền riêng ngoài giáo pháp, trực tiếp kẻ thừa đương để thấy tánh thì thành Phật, đời đời nối nhau truyền thừa đèn pháp, tự mình hành trì và giáo hóa kẻ khác để giống Phật được nối tiếp ngày càng hưng thịnh. Cho đến ta, thân thừa đạo Tổ thì tôn chỉ, diệu tâm, sự lý đều thông, tánh

6 Cũng theo “điệp phú pháp” nầy thì đời 35 là Thiệt Dinh Triêm Ân. Tuy nhiên, khi đối chiếu văn bia tháp của Tổ Thiệt Dinh tại Tổ đình Phước Lâm, Hội An cũng như các pháp quyển tại Quảng Nam thì pháp hiệu của Ngài là Ân Triêm chứ không phải là Triêm Ân. Có thể trong quá trình viết Pháp Quyển, tác giả đã có sự nhầm lẫn nào chăng? (Như Tịnh chú).
7 Ở tư liệu trước và ở tư liệu này, tác giả là Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang (đệ tử Hòa thượng Ấn Hải Viên Thông, cả hai vị kẻ trước người sau từng làm trụ trì chùa Sơn Long, Quy Nhơn) đều nhắc tới đời thứ 36 Pháp Chuyên Diệu Nghiêm hiệu Luật Truyền là khai Tổ chùa Từ Quang ở Phú Yên. Hai vị tiếp theo: đời 37 Toàn Tín Đức Thành là đệ tử Tổ Luật Truyền, là khai Tổ chùa Khánh Lâm ở Tuy Phước và đệ tử đời 38 là Chương Bảo Liễu Tạng (Tự phổ chùa Khánh Lâm ghi là Chương Nghĩa Liễu Tạng). Theo đây thì đời 39 Ấn Hải Viên Thông là đệ tử ngài Liễu Tạng, xuất từ chùa Khánh Lâm, không liên quan gì tới chùa Phổ Bảo ở Tuy Phước và chùa cũng mới chỉ có từ đời 39 Ấn Hải Viên Thông chứ không phải từ đời 38 Chương Nghĩa Thanh Nguyên xuất từ chùa Phổ Bảo, Tuy Phước, cũng không nhắc tới đời 35 Thiệt Đăng Bảo Quang được tôn làm khai Tổ chùa Sơn Long nên không thấy chút có dấu vết nào của sự hóa thân Giang Long Tự thành Sơn Long Tự (Lưu ý: Long trước có nghĩa là hưng thịnh, Long sau có nghĩa là rồng) như bản “Lược sử Tổ đình Sơn Long” đã viết mà tôi đã theo để viết bài: “Chùa Sơn Long”. Chờ tiếp tục nghiên cứu rồi xác minh. (Lộc Xuyên chú).

* Trang 153 *

tướng chẳng ngại, truyền trì đạo nầy để hoằng pháp lợi sanh. Nay ngươi đã đủ điều kiện sẵn lòng gánh vác đạo đại thừa, cầu Phật làm nhân chính lúc nầy, để được quả giác ngộ trong tương lai, hóa vật lợi sanh, chung làm giống Phật, làm lợi rộng khắp trời và người, đều thành chánh giác. Vì vậy, ta đem pháp nầy phú chúc cho ngươi, hãy nghe rồi xét kỹ bài kệ của ta đây:
“Pháp vốn ở tâm đà trọn vẹn
Đừng nên hướng ngoại hỏi truyền riêng.
Nước trong sóng lặng lòng trăng hiện
Cõi Pháp-lòng người: Một bậc thiền”.
Nay ngươi thọ trì Pháp nầy, ắt thành Phật quả chẳng xa, phát tâm đại thừa với bốn lời nguyện rộng, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng hữu tình, vận dụng Bi và Trí mà hành động thì tự ngươi thành tựu đầy đủ, lấy đó đáp đền ơn sâu Phật Tổ, chẳng quên ơn sữa pháp, giữ gìn Tam Bảo, truyền tâm diệu của Phật, đời đời nối nhau học Phật học Tổ, như thế là tôn trọng, hãy kính vâng mà hành trì.
Hòa thượng húy Chơn Tâm hiệu Phước Quang ở chùa Sơn Long, đời pháp thứ 40 nối tiếp tông chánh Lâm Tế.
Phú pháp cho:
Pháp tử đời thứ 41 là Như Huệ, hiệu Hoằng Thông Đại sư.
Vận trời năm Bính Thìn (1916) tháng 5 ngày tốt.
3. ĐIỆP PHÓ PHÁP 2.
臨 濟 正 宗
南 無 本 師 釋 迦 牟 尼 佛
西 天 首 傳 摩 訶 迦 葉 尊 者
第 二 祖 阿 難 陀 尊 者
第 三 祖 商 那 和 修 尊 者
傳 至
第 二 十 八 祖 菩 提 達 麼 尊 者
船 海 而 來 開 東 震 旦 稱 為
初 祖 達 麼 大 師
二 祖 慧 可 大 師
三 祖 僧 燦 大 師

* Trang 154 *

四 祖 道 信 大 師
五 祖 弘 忍 大 師
六 祖 慧 能 大 師
傳 至
臨 濟 正 宗 義 玄 禪 師
傳 至
三 十 一 世 天 童 堂 上 諱 道 湣 上 本 下 陳 和 尚
三 十 二 世 報 資 堂 上 諱 本 果 上 曠 下 圓 和 尚
三 十 三 世 開 山 十 塔 國 恩 諱 超 白 元 韶 上 壽 下 尊 上 煥 下 碧 和 尚
三 十 四 世 十 塔 堂 上 諱 明 覺 上 琦 下 芳 和 尚
三 十 五 世 天 姥 住 持 十 塔 堂 上 諱 實 見 上 了 下 徹 和 尚
三 十 六 世 十 塔 堂 上 諱 際 端 上 皎 下 然 和 尚
三 十 七 世 十 塔 堂 上 諱 了 智 上 慧 下 日 和 尚
三 十 八 世 十 塔 堂 上 欽 頒 刀 牒 諱 達 諒 上 興 下 隆 和 尚
三 十 九 世 十 塔 堂 上 欽 頒 金 牌 諱 悟 紹 上 明 下 理 和 尚
四 十 世 十 塔 堂 上 敕 賜 僧 綱 諱 真 論 上 福 下 慧 和 尚
示 曰
昔 我 釋 迦 如 來 將 涅 槃 辰 以 正 法 眼 藏 涅 槃 妙 心 付 囑 摩 訶 迦 葉 尊 者 為 第 一 祖 續 佛 慧 命 化 度 群 生 接 引 大 乘 傳 佛 妙 道 為 教 外 別 傳 直 下 承 當 見 性 成 佛 代 代 相 承 傳 燈 法 眼 自 行 化 他 紹 隆 佛 種 乃 至 於 我 親 承 祖 道 宗 旨 妙 心 事 理 融 通 性 相 無 礙 傳 持 此 道 弘 法 利 生 今 人 入 於 佛 位 今 汝 具 有 此 心 佩 大 乘 道 廣 利 人 天 齊 成 正 覺 是 故 我 將 此 法 付 囑 與 汝 諦 聽
偈 曰:
法 性 本 來 寂
妙 用 始 見 功
我 今 付 汝 法
法 法 自 性 中
汝 今 此 法 受 持 則 成 佛 果 非 遙 發 大 乘 心 四 弘 誓 願 上 求 佛 道 下 化 有 情 悲 智 運 行 自 他 成 滿 以 酬 佛 祖 深 恩 不 忘 法 乳 護 持 三 寶 傳 佛 妙 心 世 世 生 生 如 佛 祖 學 如 是 尊 重 欽 命 行 持
敕 賜 十 塔 彌 陀 寺 嗣 祖 四 十 世 諱 真 論 上 福 下 慧 和 尚
傳 付

* Trang 155 *

法 子 四 十 一 世 諱 如 慧 字 清 源 號 智 果 大 師
天 運 己 巳 年 二 月 佛 涅 槃 日 書
Phiên âm:
LÂM TẾ CHÁNH TÔNG
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tây Thiên thủ truyền Ma ha Ca Diếp Tôn giả.
Nhị tổ A Nan Đà Tôn giả.
Tam tổ Thương Na Hòa Tu Tôn giả.
Truyền chí:
Đệ nhị thập bát tổ Bồ Đề Đạt Ma Tôn giả.
Hàng hải nhi lai, khai Đông chấn đán, xưng vi:
Sơ tổ Đạt Ma Đại sư.
Nhị tổ Huệ Khả Đại sư.
Tam tổ Tăng Xán Đại sư.
Tứ tổ Đạo Tín Đại sư.
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn Đại sư.
Lục tổ Huệ Năng Đại sư.
Truyền chí:
Lâm Tế chánh tông Nghĩa Huyền Thiền sư.
Truyền chí:
Tam thập nhất thế, Thiên Đồng đường thượng, húy Đạo Mẫn, thượng Bổn hạ Trần Hòa thượng.
Tam thập nhị thế, Báo Tư đường thượng, húy Bổn Quả, thượng Khoáng hạ Viên Hòa thượng.
Tam thập tam thế, khai sơn Thập Tháp Quốc Ân, húy Siêu Bạch Nguyên Thiều, thượng Thọ hạ Tôn, thượng Hoán hạ Bích Hòa thượng.
Tam thập tứ thế, Thập Tháp đường thượng, húy Minh Giác, thượng Kỳ hạ Phương Hòa thượng.
Tam thập ngũ thế, Thiên Mụ trụ trì, Thập Tháp đường thượng, húy Thiệt Kiến, thượng Liễu hạ Triệt Hòa thượng.
Tam thập lục thế, Thập Tháp đường thượng, húy Tế Đoan, thượng Hạo hạ Nhiên Hòa thượng.
Tam thập thất thế, Thập Tháp đường thượng, húy Liễu Trí, thượng Huệ hạ Nhật Hòa thượng.

* Trang 156 *

Tam thập bát thế, Thập Tháp đường thượng, Khâm ban Đao điệp, húy Đạt Lượng, thượng Hưng hạ Long Hòa thượng.
Tam thập cửu thế, Thập Tháp đường thượng, Khâm ban Kim bài, húy Ngộ Thiệu, thượng Minh hạ Lý Hòa thượng.
Tứ thập thế, Thập Tháp đường thượng, Sắc tứ Tăng cang, húy Chơn Luận, thượng Phước hạ Huệ Hòa thượng.
Thị viết:
Tích ngã Thích Ca Như Lai, tương Niết bàn thời, dĩ chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm phó chúc Ma ha Ca Diếp Tôn giả vi Đệ nhất tổ, tục Phật huệ mạng, hóa độ quần sinh, tiếp dẫn đại thừa, truyền Phật diệu đạo, vi giáo ngoại biệt truyền, trực hạ thừa đương, kiến tánh thành Phật, đại đại tương thừa, truyền đăng Pháp nhãn, tự hành hóa tha, thiệu long Phật chủng. Nãi chí ư ngã, tương thừa Tổ đạo, tông chỉ diệu tâm, sự lý dung thông, tánh tướng vô ngại, truyền trì thử đạo, hoằng pháp lợi sanh, linh học đạo nhân, nhập ư Phật vị. Kim nhữ: Cụ hữu thử tâm, hội Đại thừa đạo, cầu Phật chánh nhân, đương lai giác quả, hóa vật lợi sanh, đồng vi Phật chủng, quảng lợi nhân thiên, tề thành chánh giác. Thị cố, ngã tương thử pháp, phó chúc dữ nhữ, đế thính kệ viết:
“Pháp tánh bổn lai tịch
Diệu dụng thủy kiến công
Nhữ kim phó nhữ pháp
Pháp pháp tự tánh trung.”
Nhữ kim thử pháp thọ trì, tắc thành Phật quả phi dao, phát đại thừa tâm, tứ hoằng thệ nguyện, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa hữu tình, bi trí vận hành, tự tha thành mãn, dĩ thù: Phật Tổ thâm ân, bất vong pháp nhũ, hộ trì Tam bảo, truyền Phật diệu tâm, thế thế sanh sanh, như Phật tổ học, như thị tôn trọng, khâm mệnh hành trì.
Sắc tứ Thập Tháp Di Đà tự, tự Tổ tứ thập thế, húy CHƠN LUẬN, thượng PHƯỚC hạ HUỆ Hòa thượng.
Pháp phú:
Pháp Tử Tứ Thập Nhất Thế húy NHƯ HUỆ, tự THANH NGUYÊN hiệu TRÍ QUẢ Đại Sư.
Thiên vận Kỷ Tỵ niên nhị nguyệt Phật Niết bàn nhật thư.
Dịch nghĩa:
TÔNG CHÁNH LÂM TẾ

* Trang 157 *

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tại nước Thiên Trúc ở phương Tây bắt đầu truyền:
                                           Tôn giả Ma ha Ca Diếp.
Tổ thứ nhì:  Tôn giả A Nan Đà.
Tổ thứ ba:   Tôn giả Thương Na Hòa Tu.
Truyền đến:
Tổ thứ 28:   Tôn giả Bồ Đề Đạt Ma.
Vượt biển sang Trung Quốc, bắt đầu mở mang Thiền tông tại Đông Độ, được tôn xưng là:
Tổ thứ nhất:            Đại sư Đạt Ma.
Tổ thứ hai:              Đại sư Huệ Khả.
Tổ thứ ba:               Đại sư Tăng Xán.
Tổ thứ tư:               Đại sư Đạo Tín.
Tổ thứ năm:            Đại sư Hoằng Nhẫn.
Tổ thứ sáu:             Đại sư Huệ Năng.
Truyền đến:
Tông chánh Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư
Truyền đến:
Đời thứ 318:       Hòa thượng Đạo Mẫn hiệu Bổn Trần ở chùa Thiên Đồng.
Đời thứ 32:         Hòa thượng Bổn Quả hiệu Khoáng Viên ở chùa Báo Tư.
Đời thứ 33:         Hòa thượng Siêu Bạch Nguyên Thiều hiệuThọ Tôn và Hoán Bích khai sơn hai chùa Thập Tháp và Quốc Ân.
Đời thứ 34:         Hòa thượng Minh Giác hiệu Kỳ Phương, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đời thứ 35:         Hòa thượng Thiệt Kiến hiệu Liễu Triệt, trụ trì chùa

8 Theo tư liệu Pháp quyền nầy, vị tổ đời thứ 31 xuất từ cửa Thiên Đồng có pháp danh là Đạo Mẫn 道湣 pháp hiệu là Bổn Trần 本陳. Tuy nhiên một số tác giả khác gọi là Đạo Mân Mộc Trần như: Thượng tọa Mật Thể, tác giả sách ” Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” lại đọc là Đạo Mân (sđd.tr.232); HT Thanh Từ, tác giả sách ” Thiền Sư Việt Nam” xuất bản năm 1992 chép theo Mật Thể và Đạo Mân; Nguyễn Hiền Đức, tác giả bộ ” Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong” I và II xuất bản năm 1995 lại đọc thành Đạo Mân Mộc Trần (sđd.tập 1, tr.153). Vấn đề nầy còn tồn nghi, chờ tư liệu để bổ khuyết đính chính.

* Trang 158 *

Thiên Mụ, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đời thứ 36:  Hòa thượng Tế Đoan hiệu Hạo Nhiên, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đời thứ 37: Hòa thượng Liễu Trí hiệu Huệ Nhật, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đời thứ 38:  Hòa thượng Đạt Lượng, hiệu Hưng Long, được ban Giới đao và Độ điệp, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đời thứ 39:  Hòa thượng Ngộ Thiệu, hiệu Minh Lý, được ban Kim bài, trụ trì chùa Thập Tháp.
Đờithứ 40:   Hòa thượng Chơn Luận, hiệu Phước Huệ, được Sắc phong Tăng cang, trụ trì chùa Thập Tháp.
Bảo rằng:
Xưa Đức Bổn Sư Thích Ca Như Lai sắp nhập Niết bàn, bèn đem chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm phó chúc cho Tôn giả Ma ha Ca Diếp làm vị Tổ thứ nhất nối tiếp huệ mạng Đức Phật mà dạy dỗ mọi loài, dắt dẫn họ lên đại thừa, đem đạo diệu huyền của Phật truyền riêng ngoài giáo pháp, thẳng đến tâm người thừa đương để thấy tánh thì thành Phật, đời nọ trao đời kia tiếp đèn tổ mắt Pháp, tự mình hành trì và hóa độ kẻ khác để giống Phật được tiếp tục hưng thịnh. Đến đời ta, thân thừa đạo Tổ thì tôn chỉ, diệu tâm, sự lý đều thông, tánh và tướng không còn trở ngại, giữ truyền phổ biến đạo, mở mang Phật pháp để mọi loại được lợi, khiến người học đạo được vào quả vị Phật. Nay ngươi đủ điều kiện sẵn lòng gánh vác đạo đại thừa để làm lợi rộng khắp trời người cho thành chánh giác. Vì vậy, ta đem pháp nầy phó chúc cho ngươi, ngươi hãy lắng nghe rồi suy xét bài kệ như sau:
“Tánh pháp xưa nay lặng
Khéo dùng thấy đầu công,
Nay ta phó ngươi pháp
Tự tánh Pháp ở trong”.
Nay ngươi thọ trì Pháp nầy, ắt thành Phật quả chẳng xa, phát tâm đại thừa với bốn lời nguyện rộng, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng hữu tình, vận dụng Bi và Trí mà hành động thì tự ngươi thành tựu đầy đủ, lấy đó đáp đền ơn sâu Phật Tổ, chẳng quên ơn sữa pháp, giữ gìn Tam Bảo, truyền tâm diệu của Phật, đời đời nối nhau học Phật

* Trang 159 *

học Tổ, như thế là tôn trọng, hãy kính vâng mà hành trì.
Hòa thượng Chơn Luận hiệu Phước Huệ, đời pháp thứ 40, nối tiếp Tổ nghiệp làm trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà được Sắc tứ.
Phú pháp cho:
Pháp tử đời thứ 41 là Như Huệ, tự Thanh Nguyên, hiệu Trí Quả Đại sư.
Vận trời năm Kỷ Tỵ (1929) tháng 2 ngày vía Phật nhập Niết bàn. Viết vào ngày nầy.
Độ điệp Tăng Cang của Hòa thượng Hoằng Thông. 
ảnh Như Tịnh (2009)
4. ĐỘ ĐIỆP
禮 部 為 給 度 牒 事
炤 得
梵 家 立 教 要 在 慈 悲
覺 道 開 人 本 乎 清 淨
曇 花 貝 葉 悟 人 之 妙 諦 難 窮
寶 筏 慈 航 度 世 之 福 緣 無 量
故 傳 經 卓 錫 皈 依 般 若 之 鄉
授 缽 傳 衣 廕 庇 菩 提 之 樹
必 須 淨 六 塵 於 德 水

* Trang 160 *

空 萬 感 於 心 香
可 以 默 契 禪 林 靜 寂 之 真 詮
而 敬 揚 聖 化 昇 平 之 景 鑠 者 也
仰 見 我 皇 上
中 正 體 元
蕩 平 集 祉
敬 德 以 祈 永 命
積 善 以 迓 繁 禧
玆 白 沙 寺 寺 長 阮 度 經 著 商 (公 文 第 七 十 號) 定 為 伊 寺 僧 綱 輒 此 給 予 度 牒 壹 道 戒 刀 壹 把 仍 聽 於 伊 寺 專 業
嗚 呼
香 水 蒲 團 依 靜 境 通 慧 參 象 教 之 微
慈 雲 花 雨 沛 生 機 圓 滿 溥 龍 池 之 廕
王 章 佛 法
共 貫 同 條
須 至 牒 給 者
有 牒 給 
平 定 省 白 沙 寺 僧 綱 阮 度
貫 安 仁 府 好 德 總 永 安 定 邨
年 庚 五 十 壹 歲 法 號 弘 通 執 炤
保 大 柒 年 拾 二 月 拾 玖 日
[有 禮 部 之 印]
Phiên âm:
Lễ Bộ vi cấp Độ điệp sự:
Chiếc đắc:
Phạm9 gia lập giáo, yếu tại từ bi;
Giác đạo khai nhơn, bản hồ thanh tịnh.
Đàm hoa 10bối diệp11, ngộ nhan chi diệu đế nan cùng;

9 Phạm, phiên âm Phạn ngữ Sanskrit là cổ tự của Ấn Độ được dùng để chép kinh Phật. Phạm còn có nghĩa là thanh tịnh là hạnh chính trong nhiều hạnh của người tu đạo Phật. Do 2 nghĩa đó mà đạo Phật, nhà Phật, chùa Phật được gọi là Phạm gia.
10 Gọi đủ là Ưu Đàm Bát hoa, phiên âm tiếng Phạn Upanishad, khi hoa nầy nở thì có Phật ra đời hay Luân vương xuất thế.
11 Lá cây Bối đa la tức lá cây thốt nốt xưa dùng chép kinh Phật.

* Trang 161 *

Bảo phiệt từ hàng, độ thế chi phước duyên vô lượng.
Cố: truyền kinh trác tích, quy y Bát nhã chi hương;
Thọ bát truyền y, ấm tí Bồ đề chi thọ.
Tất tu: Tịnh lục trần12 ư đức thủy13
Không vạn cảm ư tâm hương.
Khả dĩ mặc khế Thiền lâm tịnh tịch chi chơn thuyên,
Nhi kính dương Thánh hóa thăng bình chi cảnh thước giả dã.
Ngưỡng kiến ngã Hoàng thượng:
Trung chánh thể nguyên,
Đãng bình tập chỉ.
Kính đức dĩ kỳ vĩnh mệnh,
Tích thiện dĩ nhạ phồn hy.
Tư Bạch Sa tự, tự trưởng Nguyễn Độ, kinh trước thương (công văn đệ thất thập hiệu), định vi y tự Tăng cang. Chiếp thử cấp dư Độ điệp nhất đạo, Giới đao nhất bả, nhưng thính vu y tự chuyên nghiệp.
Ô hô!
Hương thủy bồ đoàn y tịnh cảnh, thông tuệ tham tượng giáo chi vi.
Từ vân hoa vũ phái sanh cơ, viên mãn phổ long trì chi ấm.
Vương chương Phật pháp
Cộng quán đồng điều
Tu chí điệp cấp giả.
Hữu điệp cấp!
Bình Định tỉnh Bạch Sa tự Tăng cang Nguyễn Độ.
Quán An Nhơn phủ, Háo Đức tổng, Vĩnh An Định thôn, niên canh Ngũ thập nhất tuế, pháp hiệu Hoằng Thông chấp chiếu.
Bảo Đại thất niên thập nhị nguyệt thập cửu nhật.
(Hữu Lễ bộ chi ấn).
Dịch nghĩa:
Bộ lễ: Làm việc cấp Độ Điệp

 12 Lục trần là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.
13 Nước có 6 công đức là: trừng tịnh (lắng sạch); thanh lãnh (trong mát); cam mỹ (ngọt ngon); khinh nhuyễn (nhẹ dịu); nhuận trạch (nhuần trơn) và an hòa.
 

* Trang 162 *

Chiếu điều biết được:
Nhà Phật lập giáo, cốt ở từ bi,
Mở đạo dạy người, vốn nơi thanh tịnh.
Hoa đàm lá bối độ người có pháp diệu khôn cùng
Bè báu buồm lành, cứu đời sẵn phước duyên vô lượng.
Cho nên:
Truyền kinh dựng gậy, làng Bát nhã dốc chí theo về,
Trao bát truyền y, cội Bồ đề rắp lòng nương bóng.
Ắt tu:
Nhờ nước đức rửa sạch sáu trần,
Cậy hương tâm xông thơm muôn cảm.
Rừng Thiền vắng lặng, mặc nhiên hợp chân lý nhiệm mầu,
Thánh hóa yên bình, kính cẩn giương đức trị đẹp đẽ.
Ngước xem đức vua ta:
Lấy công bình chánh trực thành cách thức làm đầu,
Khiến đất nước yên bình, tạo phước cho trăm họ.
Chuộng đạo đức để cầu mệnh trời ban cho dài lâu,
Chứa điều lành để đón phước trời ban cho dư dã.
Nay có tự trưởng chùa Bạch Sa là Nguyễn Độ, đã trải qua sự xem xét rồi (do công văn số 70), định cho làm Tăng cang tại chùa Bạch Sa, liền cấp một tờ Độ điệp nầy cùng với một thanh Giới đao, theo lời xin cho ở tại chùa Bạch Sa tu hành như cũ.
Hỡi ôi!
Đệm cỏ nước thơm nương cảnh tịnh, Thiền tịnh tham tượng giáo huyền vi,
Mây lành hoa rải những sanh cơ, che khắp cả long trì mát rượi.
Điển vua pháp Phật
Chung suốt mọi điều
Cho nên cấp điệp nầy vậy.
Điệp cấp cho:
Tăng Cang Nguyễn Độ ở chùa Bạch Sa tỉnh Bình Định.
Quán phủ An Nhơn, tổng Háo Đức, thôn Vĩnh An Định, niên canh 51 tuổi, pháp hiệu Hoằng Thông chấp chiếu.
Bảo Đại năm thứ 7 (1932) tháng Chạp ngày 19.
(Có dấu ấn khắc 4 chữ Lễ Bộ Chi Ấn).
Đối chiếu tờ Độ Điệp nầy với tờ Độ Điệp do Bộ Lễ tuân chỉ vua cấp

* Trang 163 *

cho Hòa thượng Toàn Định Bảo Tạng ở chùa Thắng Quang, Hoài Nhơn vào ngày 22 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) thì thấy đã lược bỏ nhiều, không còn nói tới biện pháp chế tài (xem phần phụ lục bài Chùa Thắng Quang ở tập Hạ). Trong tỉnh ta, dưới thời nhà Nguyễn Gia Miêu trị trì, có nhiều vị trụ trì ở nhiều chùa như Thập Tháp, Linh Phong, Thắng Quang, Tịnh Lâm, Minh Tịnh, Bạch Sa v.v… được triều đình ban Độ Điệp và cấp Giới đao nhưng hiện nay Đao Điệp hầu hết đã mất, chỉ còn sót lại hai tờ Độ Điệp của hai ngài Bảo Tạng và Hoằng Thông mà thôi. Không nói hẳn ai cũng biết chúng hiếm và quý tới bậc nào. Tự tăng hai chùa nói trên nên bảo quản có phương pháp để chúng và những thư tịch khác như các tờ điệp Phó pháp, di chúc v.v… không bị làm mồi cho mối mọt để làm bảo vật lưu lại cho mãi mãi về sau. Mong vậy thay!
5. TRÍCH LỤC CẤP SỰ
平 富 總 督 膺 為 摘 錄 給 事
玆 接 禮 部 覆 敘 在 省 經 案 咨 屬 轄 白 沙 寺 由 建 在 歸 仁 錦 上 第 三 坊 寺 長 阮 度 貫 安 仁 府 永 定 邨 係 童 年 出 家 科 範 諳 詳 果 有 道 行 具 有 七 府 縣 轄 諸 山 寺 僧 均 同 順 保 請 許 為 伊 寺 僧 綱 之 職 伊 貴 部 業 覆 質 在 京 諸 官 寺 僧 綱 住 持 人 等 亦 表 同 情 伊 部 擬 伊 經 咨 呈 貴 部 輔 政 親 臣 尊 室 並 商 呈 貴 欽 使 座 審 悅 均 接 覆 依 伊 部 炤 例 準 給 度 牒 一 道 戒 刀 一 把 憑 給 一 張 覆 行 等 因 除 另 飭 接 貫 炤 例 將 項 併 飭 諸 山 寺 僧 知 遵 外 合 行 錄 給 伊 阮 度 充 為 白 沙 寺 僧 綱 奉 領 刀 牒 憑 給 便 得 安 心 持 教 唱 率 眾 僧 俾 為 衣 缽 傳 授 有 人 若 所 事 弗 虔 有 公 法 在 須 至 摘 錄 給 者
有 摘 錄 給 白 沙 寺 僧 綱 阮 度 法 號 弘 通 遵 奉
保 大 捌 年 正 月 初 陸 日
有 平 富 總 督 關 防
Phiên âm:
Bình Phú Tổng đốc Ưng, vi trích lục cấp sự:
Tư tiếp, Lễ Bộ, phúc tự tại tỉnh, kinh sát tư thuộc hạt, Bạch Sa tự (do kiến tại Quy Nhơn Cẩm Thượng đệ tam phường), tự trưởng Nguyễn Độ (quán An Nhơn phủ, Vĩnh Định thôn), hệ đồng niên  xuất gia, khoa phạm am tường, quả hữu đạo hạnh, cụ hữu thất phủ huyện hạt, chư sơn tự tăng, quân đồng thuận bảo thỉnh, hứa y vi tự

* Trang 164 *

Tăng cang chi chức. Y quý bộ nghiệp phúc chất, tại kinh chư quan tự Tăng cang trụ trì nhân đẳng, diệc biểu đồng tình. Y bộ nghĩ, y kinh tư trình quý Phụ chánh thân thần tôn đài, tịnh thương trình quý Khâm sứ tòa thẩm duyệt, quân tiếp phúc y. Y bộ chiếu lệ chuẩn cấp Độ Điệp nhất đạo, Giới đao nhất bả, bằng cấp nhất trương. Phúc hành đẳng nhân trừ lánh sức án quán chiếu lệ tương hạng tính. Sức chư sơn tự tăng tri tuân. Ngoại hiệp hành lục cấp y Nguyễn Độ sung vi Bạch Sa tự Tăng cang, phụng lãnh Đao điệp bằng cấp, tiện đắc an tâm trì giáo, xướng suất chúng tăng, ti vy y bát, truyền thụ hữu nhân. Nhược sở sự phất kiền, hữu công pháp tại. Tu chí trích lục cấp giả.
Hữu nhất lục cấp, Bạch Sa tự, Tăng cang Nguyễn Độ, pháp hiệu Hoằng Thông tuân phụng.
Bảo Đại bát niên, chánh nguyệt sơ lục nhật.
(Hữu Bình Phú Tổng Đốc Quan Phòng).
Dịch nghĩa:
Tổng đốc liên tỉnh Bình Định, Phú Yên là Ưng…trích sao (văn thư cấp trên nói) về việc cấp bằng Tăng cang cho tự trưởng chùa Bạch Sa).
Nay tiếp được văn thư của Bộ Lễ phúc định việc đã xét duyệt rằng tại tỉnh có chùa Bạch Sa (do kiến tạo tại phường 3, thôn Cẩm Thượng, Quy Nhơn) có tự trưởng là Nguyễn Độ (quán thôn Vĩnh Định, phủ An Nhơn) xuất gia từ thuở nhi đồng, từng am tường kinh kệ khoa nghi, Thiền môn quy phạm, quả là nhà sư có đạo hạnh, được đủ tự tăng các chùa trong 7 phủ huyện thuộc tỉnh đồng thuận bảo cử xin cho Nguyễn Độ làm chức Tăng cang tại chùa Bạch Sa. Quý bộ đã hỏi lại các Tăng cang trụ trì các chùa do vua lập tại kinh đô thì âu cũng biểu đồng tình. Bộ đã đem nội vụ trình với quý quan lớn Phụ chánh gần gũi nhà vua cùng trình qua quý Khâm sứ thẩm duyệt thì đều được phúc đáp chấp thuận y như lời xin. Nay bộ chiếu theo lệ cũ cấp một đạo Độ điệp, một thanh Giới đao, một tờ bằng cấp. Phúc cho đương sự được riêng trừ sưu dịch. Sức xét quê quán chiếu theo lệ định đem vào hạng miễn sưu dịch. Sức tự tăng các chùa trong tỉnh biết mà tuân theo. Ngoài ra còn sao cấp cho Nguyễn Độ sung làm Tăng cang chùa Bạch Sa biết mà phụng lãnh Đao điệp bằng cấp để được yên tâm hành đạo, xướng suất Tăng chúng khiến cho có người mà truyền thụ y bát. Như có việc chẳng kính tuân thì đã sẵn có pháp công. Cho nên có việc trích lục nầy.

* Trang 165 *

Trích lục sao cho Nguyễn Độ pháp hiệu Hoằng Thông chức Tăng cang chùa Bạch Sa tuân phụng.
Năm Bảo Đại thứ 8 (1933), tháng Giêng ngày mồng 6.
(Có dấu ấn Bình Phú Tổng Đốc Quan Phòng).
6. TRÍCH LỤC SẮC TỨ
平 富 總 督 阮 為 遵 摘 錄 事
接 禮 工 部 錄 敘 屬 歸 仁 錦 上 第 三 坊 白 沙 寺 奉 事 莊 嚴 。 著 靈 應 欽 奉 旨 準 敕 賜 白 沙 寺 扁 額 一 面 懸 掛 奉 事 等 因 輒 此 遵 摘 錄 遵 奉 須 至 遵 摘 錄 者
有 遵 摘 錄 
敕 賜 白 沙 寺 寺 長 僧 綱 阮 度 遵 奉
保 大 拾 三 年 玖 月 十 二 日
有 平 富 總 督 關 防
Phiên âm:
Bình Phú Tổng Đốc Nguyễn, vi tuân trích lục sự:
Tiếp Lễ công bộ lục tự, thuộc Quy Nhơn Cẩm Thượng đệ tam phường Bạch Sa tự, phụng sự trang nghiêm, nẫm trứ linh ứng. Khâm phụng chỉ chuẩn Sắc tự Bạch Sa tự biển ngạch nhất diện, huyền quải phụng sự đăng nhân, chiếp thử tuân trích lục tuân phụng, tu chí trích lục giả.
Hữu tuân trích lục.
Sắc tứ Bạch Sa tự tự trưởng Tăng cang Nguyễn Độ tuân phụng.
Bảo Đại thập tam niên cửu nguyệt thập nhị nhật.
(Hữu Bình Phú Tổng Đốc Quan Phòng).
Dịch nghĩa:
Tổng đốc Bình Phú Nguyễn, làm việc tuân lệnh trích sao Sắc tứ.
Tiếp văn thư bộ Lễ công sao lại chỉ chuẩn chùa Bạch Sa ở phường 3, thôn Cẩm Thượng, Quy Nhơn phụng sự trang nghiêm, từng có linh ứng, kính phụng chỉ chuẩn một biển Sắc tứ Bạch Sa tự để treo tại nơi thờ phụng, liền tuân lệnh trích sao để tự Tăng tuân phụng, cho nên có trích lục nầy.
Tuân lệnh trích lục (gởi cho).
Tăng cang Nguyễn Độ, tự trưởng Sắc tứ Bạch Sa tự tuân phụng.
Bảo Đại năm thứ 13 (1938) tháng 9 ngày 12.
(Có ấn Bình Phú Tổng Đốc Quan Phòng).

* Trang 166 *

(Lộc Xuyên Đặng Quý Địch. 2012. Những Ngôi Chùa Tiêu Biểu Trong tỉnh Bình Định. NXB Đà Nẵng.)  (nguồn: vnbet.vn)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên