Ở làng Yên Nội, xã Liên Mạc có ngôi chùa cổ xây dựng từ đời Trần (thế kỷ XIII), nơi tu hành của công chúa Trần Thị Túc Trinh.

Theo truyền thuyết và thư tịch còn lại ở địa phương thì vào năm Ất Sửu (1265) sau bảy năm chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ nhất (1258), để phát triển sản xuất nông nghiệp, làm cho đất nước giàu mạnh, Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đã “xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán…, để khai khẩn ruộng hoang”. Hưởng ứng lời kêu gọi của nhà vua, công chúa Trần Thị Túc Trinh con gái thứ tư của vua Trần Thánh Tông đã rời bỏ cung điện trong kinh thành Thăng Long ra vùng phía Tây Bắc kinh thành lúc đó còn hoang hóa làm nhà ở. Công chúa đã bỏ tiền bạc ra chiêu tập dân nghèo, cấp vốn cho họ mua trâu bò, nông cụ, thóc giống, lương thực, làm nhà ở v.v.. để khai khẩn ruộng hoang.

Lúc đầu dân đến còn ít, lập ra xóm vườn và trại Noi ở xa làng. Về sau thấy Công chúa có lòng nhân từ không ham của cải nên dân các nơi kéo đến ngày càng đông, lập ra hai làng mới là thôn Cổ Nhuế Viên và Cổ Nối (sau đổi Yên Nội). Kết thúc thời kỳ khai hoang, số ruộng của thôn Viên có 400 mẫu và Yên Nội có 250 mẫu Bắc bộ.

Khi mới ra, bà Túc Trinh làm nhà ở thôn Viên (gọi là khu vườn Dinh). Bà sống rất giản dị, gần gũi nhân dân. Sau bà xây dựng chùa Thánh Quang rồi đi tu, ăn chay niệm phật.

Chùa Thánh Quang xây theo kiểu “nội công ngoại quốc” (bên trong hình chữ Công, bên ngoài hình chữ Quốc) theo hướng Nam nhìn ra cánh đồng mới khai hoang của Yên Nội theo hình quạt giấy mở. Tam bảo năm gian rộng, hậu cung ba gian, tam quan ở sau hậu cung có treo quả chuông khắc bản Di chúc của công chúa đề niên hiệu Vua thứ tư triều Trần, tức Trần Anh Tông (1293-1314). Hai bên đầu hồi chùa là dãy hành lang 10 gian, phía sau là hậu điện có tượng Công chúa Túc Trinh.

Chùa được tu sửa lớn thời Lê năm Bảo Thái thứ tư (1723) và thời Nguyễn năm Tự Đức thứ 28 (1875). Trong chùa còn nhiều di vật đời Trần, đời Lê có giá trị như hai chiếc lư đồng hun, nghê bằng gốm v.v.. Đặc biệt có quả chuông khắc nguyên văn Di chúc của công chúa Túc Trinh trước khi qua đời bằng chữ Hán dịch nghĩa như sau:

“Vua thứ tư triều Trần, nước Việt. Công chúa Túc Trinh, đúc quả chuông lớn nặng bốn trăm cân, để ở hương Từ Liêm, chùa Thánh Quang (…). Thiết nghĩ ta đây:

Suốt đời chẳng trồng quả tốt,
Nay sinh chẳng sửa duyên lành.
Lo đã chịu là hữu thân,
Tôi lại gặp là vô hậu.
Mắt dẫu chưa nhắm,
Tình thời đã thương,

Cho nên phải chia ruộng đất cho nô tỳ và cả anh em trong họ. Ai cũng phải giữ gìn phần mộ cùng với quý vật của Tam bảo… vì cớ ấy:

Ta ghi lời dặn lúc còn sống
Thay làm chúc thư sau khi chết,
Khắc ở chuông này,
Truyền để đời sau.
Trên nhờ phép thường của Nhà nước,
Dưới mong lòng thuận của anh em.
Nếu trái lời trong chuông,
Khó tránh khỏi lưới pháp luật.

Từ nay: Ruộng đất chia cấp cho hương lửa nô tỳ cấy sinh sống và ruộng đất tiến làm của Tam bảo đã có phân biệt. Nếu trong nô chúng có người không chịu phụng sự hương hỏa, lại tự tiện xâm chiếm ruộng đất của Tam bảo thì nô chúng phải cùng nhau tố cáo lên triều đình luận tội.

Nếu anh em người nhà ta cậy thế chiếm đoạt ruộng đất của Tam bảo, trễ nải việc hương hỏa, thì nô chúng phải cùng nhau tố cáo lên triều đình luận tội:

Ghi chú (trong chuông): Nguyên chuông cũ (đúc từ thời Trần) bị phá mất không biết duyên cớ và từ năm nào. Nhân dân địa phương cho đúc chuông mới, đồng ba trăm cân, thiếc tám cân, vàng hai mươi tám phân, lời văn y như chuông cũ, treo ở Tam quan.

Tự Đức Ất Hợi (1875) tháng hai, đúc xong quả chuông, khắc bài văn chuông làm ghi(1).

Bài văn chuông có giá trị nghiên cứu lịch sử xã hội thời Trần. Ngoài chùa Thánh Quang, bà Túc Trinh còn xây dựng chùa Anh Linh ở thôn Cổ Nhuế Viên xã Cổ Nhuế. Bà Túc Trinh mất, mộ để ở gò Đống Trại (thôn Viên), nhân dân hai làng Viên và Yên Nội đều lập đền thờ bà. Hằng năm đền ngày giỗ bà (2 tháng 8 âm lịch) có tục cúng cơm gạo xay với muối vừng theo thói quen khi bà còn sống. Ở đền thờ bà Chúa thôn Viên còn lại bài ca bằng chữ Nôm làm từ thời vua Khải Định (1916-1925) trong có đoạn:

“Chúa phụng chiếu khai hoang lập ấp,
Mộ nhân dân chiêu tập thành gia;
Thổ, điền quân cấp mỗi nhà,
Đội công đức chúa biết là đến đâu…”

Cho đến trước năm 1945, thôn Viên có 81 mẫu ruộng công do bà Chúa để lại, hằng năm chia cho trai đinh (18 tuổi trở lên) mỗi người 2 sào. Nhờ vậy mà đời sống bớt khó khăn.

CHÚ THÍCH

1. Trích bản dịch của cụ Nguyễn Văn Côn ở thôn Yên Nội, xã Liên Mạc.

ĐỖ THỈNH (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (25), 1995)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên