chs03.jpg

Không Lộ và Minh Không vốn là hai nhà sư nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam mà nhiều sử sách có nhắc tới. Song, do hoàn cảnh, thời đại, tên tuổi, truyền thuyết…về hai nhà sư này còn có nhiều điểm gần giống nhau, và hơn nữa do sự sao chép nhầm lẫn trong một vài cuốn sách Hán Nôm, khiến cho một số nhà nghiên cứu bấy nay có bị nhầm lẫn, lẫn lộn.

Sau đây, chúng tôi sẽ xin nêu một vài ý kiến lầm lẫn ấy và làm sáng tỏ thêm sự tích về hai nhà sư này qua một số cuốn sách Hán Nôm mà chúng tôi mới sưu tầm được ở Thái Bình, cuốn Quốc sư bảo lục của Đặng Xuân Bảng.

Trong bài Thăm chùa Keo của Trần Huy Bá và Trương Chính đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 9 năm 1971, đoạn nói về một số tài liệu nhà chùa còn giữ được, hai tác giả đã giới thiệu ba quyển sách: Không Lộ thiền sư ký ngữ lục, Thánh tổ thực lục diễn ca và Địa bạ chùa Keo. Trừ sách Địa bạ liệt kê những người cúng ruộng vào chùa, chúng tôi thấy cần chú ý hai cuốn sách còn lại.

Về sách Không Lộ thiền sư ký ngữ lục. Các tác giả lược thuật rằng: vị thiền sư này người Hải Thanh, họ Dương, pháp hiệu là Minh Không, làm nghề đánh cá, sau bỏ nghề đi tu, đắc đạo, có pháp thuật, có thể bay trên không, đi trên mặt nước, bắt long hổ phải quy phục, vv… Đời Lý Thái Tông, năm Minh Đạo thứ nhất (1041), giúp nhà vua đánh được Chiêm Thành. Năm Bính Thìn (1136), đời Lý Nhân Tông, nhà vua bị bệnh hổ hoá. Lương y khắp nước chữa không khỏi. Sau cho sứ giả đến chùa nhà sư về cúng. Cuối cùng nhà sư chữa khỏi bệnh cho nhà vua. Nhà vua sắc phong Đại Pháp, kiêm Quốc sư, ban ruộng ban hàng vạn khoảnh. Sự tích ngày 3 tháng 6 năm Kỷ hợi. Chính vị thiền sư này được Lý Anh Tông (1138 – 1175) cho lập đền thờ ở Thăng Long, gọi là đền Lý Quốc Sư.

Về sách Thánh tổ thực lục diễn ca, các tác giả bài báo lược thuật rằng: “Sách này nói Không Lộ họ Nguyễn, người làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình. Tiểu sử có nhiều chỗ hoang đường, chúng tôi lược bớt. Phần lớn giống như Vũ Quỳnh kể trong Lĩnh Nam trích quái, kể cả chuyện đi sang Trung Quốc được vua Trung Quốc cho đồng, bỏ tất cả mấy kho đồng vào một cái túi nhỏ, thả nón xuống sông làm thuyền đi về Nam Hải. Cũng vì vậy, Minh Không còn được coi là ông tổ nghề đúc ở nước ta, thờ ở đình Ngũ Xá và chùa tổ ông ở phố Lò Đúc”.

Như thế, về tên, họ, quê quán và sự tích Không Lộ qua hai quyển sách trên có nhiều điểm sai khác rất cơ bản.

Tháng 6- 1975, Sở Văn hoá và Thông tin Thái Bình xuất bản cuốn Chùa Keo của Đỗ Văn Ninh và Trịnh Cao Tưởng. Trong phần Truyền thuyết về thiền sư Không Lộ, hai tác giả bài báo lược thuật rằng trên và thêm một vài tư liệu khác. Nhưng hai tác giả đã dựa vào nội dung sách Không Lộ thiền sư ký ngữ lục, rồi đem so sánh với nội dung bài văn bia ở chùa La Vân thuộc xã Quỳnh Vân, huyện Quỳnh Phụ. Kết quả, các tác giả cũng thấy những điểm khác nhau cơ bản như trường hợp bài báo đã nêu ở trên.

Cuối cùng, các tác giả cuốn Chùa Keo cũng phải thừa nhận: “Chuyện về vị Quốc sư triều Lý có chỗ đúng sai khó bề khảo đính”.

Tạp chí Văn học số 6 năm 1974 có bài Hình bóng người anh hùng sáng tạo văn hoá trong truyền thuyết dân gian Không Lộ. Với cách nhìn của người nghiên cứu văn hoá dân gian, tác giả bài báo cho rằng: “có Không Lộ của sử sách, có Không Lộ của dân gian. Không Lộ là cái tên đã từng được dùng để trỏ vào hai nhà sư có thật trong lịch sử” là Dương Không Lộ và Nguyễn Nguyễn Minh Không. Nhưng tác giả bài báo lại cho rằng: “Sẽ ít có triển vọng, nếu xem xét cô lập từng mặt riêng rẽ của hiện tượng Không Lộ, chẳng hạn chỉ coi đây là sự tích một nhà tu hành hoặc một vị “tổ sư” nghề đúc đồng, một danh y hoặc một vị thánh của Đạo giáo và đạo Phật”.

Quả đây là vấn đề rất phức tạp. Gần đây, khi về Đinh Am làng Lại Trì, nay thuộc xã Vũ Tây, huyện Kiến xương, nơi thờ Không Lộ và Thánh mẫu (tức mẹ Không Lộ), chúng tôi được cụ Trần Văn Thuyết, 74 tuổi (thủ từ), kể cho nghe về một vụ án như sau:

Năm Duy Tân thứ hai (1908), dân làng Lại Trì khắc một đôi câu đối bằng gỗ cúng vào đình với hai vế là:

Dương gia tập phúc thiên sinh thánh;
Lý thế tôn thiền quốc hữu sư.

Khi đôi câu đối này treo lên thì nổ ra một cuộc tranh cãi nhau về tên họ của vị thánh thờ ở đây. Cụ cử nhân Vũ Công Quán cho rằng đức thánh họ Dương là đúng. Ngược lại, cụ kép Trần Văn Uớc lại cho rằng đức thánh không phải họ Dương mà là họ Nguyễn. Dư luận của sở tại lúc đó cho rằng cụ Kép Ước thắng cuộc là vì cụ là vì cụ có cậu con trai cả là Trần Văn Vỡi làm thông phán ở Thái Bình đã chạy kiện cho bố. Tuy vậy, dân làng Lại Trì vẫn phải chiểu theo lệnh của toà án cho khoét chữ “Dương” trên câu đối,ghi chép miếng gỗ khác và khắc chữ “Nguyễn” điền vào đó. Hiện nay đôi câu đối trên vẫn còn dấu vết ô vuông chỗ gỗ ghép.

Cũng ở địa bàn xã Vũ Tây, chúng tôi đã sưu tầm được một quyển sách chữ Hán chép tay, giấy bản khổ 21x12cm, gồm 28 tờ, được chép chữ trong 48 trang, trung bình mỗi trang 170 chữ.

Nội dung sách gồm hai phần:

Phần thứ nhất, tên sách đề chính giữa bốn chữ to: “Quốc sư bảo lục”. Phía trên phải đề “Hoàng triều Bảo Đại tam niên, Mậu thìn, mạnh thu, phụng sao”. Phía trái đề: “Lại Trì xã phụng tự”.

1. Lý triều quốc sư tích lục, gồm 10 trang. Lạc khoản có ghi “Bính thìn khoa đồng tiến sĩ, Tuần phủ trí sỹ thiện Đình Đặng Hy Long tiên sinh khảo lục”. Phía dưới bên trái viết bốn chữ nhỏ: “Quán Hành thiện xã”.

2. Phụ lục Minh Không thiền sư sự tích, gồm sáu trang.

3. Thiện Đình tuần phủ Đặng tiên sinh khảo bạt, gồm sáu trang.

Phần thứ hai của cuốn sách cũng gồm ba bài:

1. Quốc sư sự tích ký ngữ lục, gồm 17 trang.

2. Đạo Hạnh biệt truyện, gồm 5 trang.

3. Từ điển khảo đính, gồm 4 trang

Nhìn vào bố cục cuốn sách, chúng ta thấy phần đầu gồm 22 trang, là sách của Đặng Xuân Bảng, hiệu Hy Long, được một nhà nho người làng Đại Trì sao chép lại năm 1928. Phần thứ hai gồm 26 trang, là phần do người sao chép ấy biên soạn, gồm sự tích của các vị thánh thờ ở Đình Am, sự tích của Từ Đạo Hạnh và một bài khảo đính.

Phần sách của Đặng Xuân Bảng đã phân biệt rõ sự tích hai vị cao tăng triều Lý, đại lược như sau:

1. Dương Không Lộ, huý Minh Nghiêm, người làng Giao Thuỷ, huyện Hải Thanh, đạo hiệu Không Lộ, làm nghể đánh cá; mẹ họ Nguyễn, người làng Hán Lý, Hải Dương. Dương Không Lộ sinh ngày 14-9 năm Bính thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất bảy đời Lý Thái Tổ (1016). Sự tích ngày 6-3 năm Giáp tuất, niên hiệu Hội Phong thứ ba, đời Lý Nhân Tông (1094), thọ 79 tuổi. Năm 42 tuổi, theo học Thảo Đường thiền sư. Năm 44 tuổi, tu ở chùa Hà Trạch. Bạn cùng sư Giác Hải, sau về tu ở chùa Diên Phúc. Năm 46 tuổi, dựng chùa Nghiêm Quang. Năm Bính Ngọ, niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất, đời Lý Thánh Tông (1066), Không Lộ cùng Giác Hải trừ được hai con tắc kè kêu ở điện Liên Mộng. Không Lộ được vua thưởng 1000 lạng bạc, 500 khoảnh ruộng và phong làm Quốc sư. Giác Hải được phong quốc tính.

2. Nguyễn Minh Không huý Chí Thành, đạo hiệu Minh không, quê làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng, phủ Trường An, sinh năm Bính Ngọ, niên hiệu Long Chương Thiên tự thứ nhất, đời Lý Thánh Tông (1066). Minh không tu ở chùa Quốc Thanh, theo học Từ Đạo Hạnh 40 năm. Sau lại tu ở chùa Diên Phúc. Sư tịch ngày 1-8 năm Đại Định thứ hai, đời Lý Anh Tông (1141), thọ 76 tuổi.

Năm Bính thìn, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ tư, đời Lý Thần Tông (1136). Minh Không chữa khỏi bệnh hoá hổ cho Lý Thần Tông, được phong quốc sư.

Nội dung bài bạt của Đặng Xuân Bảng trình bày như sau:

“Chùa làng ta phụng sự đức Không Lộ. Khi còn thiếu thời, tôi thường hỏi về sự tích đức thánh, các bậc cố lão nói rằng: Dương Không Lộ biệt là Minh Không. Tôi lấy làm ngờ, nhân đến chùa xem Thiền lục thì thấy có hai tập, một là Tiền lục nói rằng: đức Không Lộ họ Dương huý Minh Nghiêm, quán huyện Hải Thanh; một tập là Hậu lục nói rằng:đức Không Lộ họ Nguyễn huý Chí Thành, quán làng Đam Xá, biệt hiệu Minh Không. Tôi càng ngờ, khi xem sách Trích quái của ông Vũ Quỳng, tôi thấy sự tích thánh tổ hợp vớiTiền lục, nhưng lại ngờ rằng hoặc là Hậu lục đã có khảo cứu chăng, nên chưa dám tin là đúng.Sau tôi đi du ngoạn các nơi, thường hỏi thánh tích và đã được đọc vài chục bản. Cho nên tôi đã khảo cứu từ Lĩnh Nam chích quái đến Quốc Sử Biên niên thì Không Lộ họ Dương, Minh Không họ Nguyễn. Họ giống nhau. Không Lộ huý Minh Nghiêm, Minh Không húy Chí Thành. Tên không giống nhau. Không Lộ quán ở Hải Thanh, Minh Không quán ở Đàm xá. Quán chỉ cũng khác. Không Lộ sinh năm Bính thìn, niên hiệu Thuận thiên thứ bảy (1016) đời Lý Thái Tổ, Minh Không sinh năm Bính Ngọ, niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất (1066) đời Lý Thánh Tông. Không Lộ tịch năm Giáp tuất, niên hiệu Hội Phong thứ ba (1094) đời Lý Nhân Tông; Minh Không tịch năm Tân dậu, niên hiệu Đại Định thứ hai (1141) đời Lý Anh Tông. Khi sinh cách nhau 52 năm, khi tịch cách nhau 48 năm. Ngày sinh, ngày tịch cũng không giống nhau. Như thế thì Tiền lục là đúng mà Hậu lục là sai. Các bậc cố lão làng ta mới chỉ xem sách hậu lục mà chưa khảo sách Tiền Lục. Có lẽ điều mà sách Hậu lục nhầm lẫn chùa Diên Phúc nguyên là nơi Không Lộ tu hành mà cũng là nơi Minh Không về sau tu ở đấy. Thời gian tu hành của hai sư trước sau khác nhau, nhưng pháp thuật, đều linh hiển ở đời, cho nên sách Hậu lục chép nhầm cũng tại cớ đó.

Sở dĩ triều Lý sùng Phật giáo là do vua Lý Thái Tổ phong cho sư Vạn Hạnh làm Quốc sư, cho nên thời đó các vị cao tăng xuất hiện nhiều, vào các đời Thái Tông, Nhân Tông, Thần Tông, có Nguyễn Giác Hải, Nguyễn Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Khô Đầu, Tam muội đều có pháp thuật linh ứng, mà Không Lộ thì pháp thuật hơn cao cả. Sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng đời nhà Minh chép về hơn 20 vị cao tăng nước ta, cũng lấy Không Lộ đứng đầu, còn các vị khác thì pháp thuật cũng có sự cao thấp khác nhau.

Chùa ta thờ đức Không Lộ tới 700 năm nay rồi. Làng ta cứ đời đời thờ phụng mà truyền lại những điều quái đản như thế của sách nhà chùa. ở nơi có hàng trăm, hàng nghìn năm văn hiến, sao lại còn giữ mãi cái thuyết sai khác đến như vậy!

Còn nói đến An Nam tứ khí như tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, xét trong sử làm vào năm thứ ba niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình (1056) đời Lý Thánh Tông. Xây chùa Sùng Khánh, dựng tháp quý Đại Thắng Tư Thiên vào đời Lý Nhân Tông, trung tu, đúc chuông lớn đặt trong chùa, chuông đánh không kêu, đem bỏ ra ruộng, ruộng sinh sản nhiều rùa, nên gọi là chuông Quy Điền. Tháp Đại Thắng Tư Thiên tức tháp Báo Thiên, nay thuộc phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương. Chuông Quy Điền nay thuộc thôn Thanh Bảo, huyện Vĩnh Thuận(đều thuộc Hà Nội).

Tượng Phật Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh do Minh Không đúc. Còn tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền là những vật triều Lý đã được ghi rõ ràng trong quốc sử, Chuông Phả Lại do Không Lộ đúc. Chùa thời Không Lộ, mà Minh Không phụng sự, đều bị lầm lẫn vậy. Không Lộ cùng với Giác Hải, Đạo Hạnh hoặc là bạn của nhau, hay không phải bạn, nhưng đều là người đồng thời. Ba người pháp thuật cao thấp khác nhau là bạn cùng thời với nhau chăng, thực khó mà quyết đoán được. Đến như các việc trừ tắc kè, chữa bệnh háo hổ đều là những điều quái đản, nhưng đó là pháp thuật của đạo Tiên hay đạo Thích cũng chưa hẳn hoàn toàn không có, người tin truyền đi, điều tin, người nghi truyền đi đều nghi, sự việc còn đấy, chưa bàn hết được”.

Một vấn đề nữa là: Sách Quốc sư bảo lục của Đặng Xuân Bảng đã được biên soạn vào thời gian nào?

Tìm đọc sách Thánh tổ hành thực diễn âm ca của Đặng Xuân Bảng, kí hiệu VHv. 2380 trong kho sách Hán Nôm do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý hiện nay, chúng ta thấy sách ghi rõ: viết vào tháng 10 năm Mậu tuất, niên hiệu Thành Thái, tức tháng 11- 1898. Sách này được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát, có chú thích tỉ mỉ bằng chữ Hán. Nội dung sách hoàn toàn giống sự tích Dương Không Lộ đã được thuật ở trên. Do đó, chúng ta có thể biết được rằng các tác giả đã biên soạn sách Quốc sư bảo lục muộn nhất vào tháng 11 năm 1898, nghĩa là thời gian trước khi diễn âm sách thánh tổ hành thực diễn âm ca.

Phần thứ hai của quyển sách mới sưu tầm do một nhà nho giấu tên nguời làng Lại Trì viết, đã sao chép lại sự tích Không Lộ thờ ở Đinh Am và sự tích Từ Đạo Hạnh, rồi phát biểu ý kiến của mình trong bài Từ điển khảo đính ở cuối quyển sách. Nội dung ý kiến của tác giả chủ yếu là nhất trí với sự khảo cứu của Đặng Xuân Bảng trong bài bạt đã trình bày ở trên. Căn cư vào nội dung và điểm ra đời, quyển sách mới sưu tầm nói trên đã giúp chúng ta thêm một bằng chứng mới để góp phần làm sáng tỏ vấn đề sự tích Không Lộ và Minh Không bị lầm lẫn lâu nay.

PHẠM ĐỨC DUẬT (Tạp chí Hán Nôm, số 1.2, 1984

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên