Núi ngũ hành là năm ngọn núi Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ, nằm trên vùng cát trắng; xuất hiện  cạnh dòng sông Trường nối dài với sông Hàn. Ngày nay dòng sông Trường đã bị bồi lấp một phần thành đồng ruộng và ao hồ. Nằm tựa lưng vào ngọn núi này là ngôi chùa Quan Âm cổ kính với động Quan Âm huyền bí (wikipedia).

Trong động dãy núi Ngũ hành, hình dáng một tôn tượng xuất hiện trên vách đá; vào thập niên 1960 thế kỷ XX, Ki tô giáo tin là tượng đức Mẹ Maria, muốn tranh thủ vùng núi thuộc về mình, trong lúc chưa phân trắng đen, một người phát hiện chân tượng mờ ảo hiện ra tòa sen, thế là vùng đó được gọi là chùa Quán thế Âm. Chư Tăng ẩn tu trong các hang động cũng dần phát triển.

Qua thời gian thăng trầm lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1960, nhân ngày khánh thành tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn Thủy Sơn, phía Tây Ngũ Hành sơn. Hai năm sau, lễ hội được tổ chức nhân dịp khánh thành chùa Quan Âm ở động Quan Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình tượng Phật bà Quán Thế Âm. Sau đó, vì nhiều lý do, lễ hội không được tổ chức trong một thời gian khá dài. Mãi đến ngày vía Đức Phật bà Quan Thế Âm vào năm 1991 (19/2 năm Tân Mùi), Lễ hội Quán Thế Âm mới được khôi phục trở lại (tổ chức và sự kiện). TT Thích Huệ Vinh kế thừa trụ trì, lễ hội Quán Thế Âm thường xuyên được tổ chức ngày càng quy mô dưới nhiều hình thức. Ngoài lễ nghi tôn giáo, còn có những gian hàng trưng bày tranh ảnh, pháp phục, kinh sách, băng đĩa và ẩm thực trai tịnh.

Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là một biểu tượng của tình thương thuộc hệ thống Bắc truyền. Những dân tộc châu Á chuyển hóa tình thương của một Bồ Tát thành hình ảnh của một mẹ hiền Quán Thế Âm để nâng cao tấm lòng từ bi đối với niềm đau nỗi khổ của chúng sanh. Từ những đức tin cộng đồng trải qua nhiều thời gian, niềm tin trở thành hiển linh, và tôn tượng trở thành một hình ảnh bất khả phủ bác.

Ngoài hình ảnh và tin vào tha lực đó, tinh thần hướng nội hòa nhập với lòng từ bi của hành giả, hình ảnh và đặc tính của Bồ Tát Quán Thế Âm đã nâng cấp trị giá một hạnh nguyện hóa giải mọi nội kết của kiết sử tự thân, lúc đó “niệm bỉ Quán Âm lực, đao tầm đoạn đoạn hoại…” là những mắc mứu tự thân được hóa giải những vấn đề tưởng chừng nghịch lý như vào lửa lửa không cháy, vào nước nước không trôi trong kinh Phổ Môn, cách chuyển hóa đó để không bị tham sân si nhận chìm hoặc bị đốt cháy mà kinh Phổ Môn trừu tượng hóa công năng của vị Bồ Tát, lúc bấy giờ, Bồ tát và hành giả là một. Hành giả lắng nghe mọi ước vọng, nhu cầu cá nhân để thanh tịnh hóa tâm thức. Pháp môn “phản văn, văn tự tánh” cũng chỉ giúp hành giả lắng nghe tánh thường tại của mình, khác chăng là một đàng lắng nghe dục vọng loạn tâm, một đàng lắng nghe tánh biết thường tại, để đi đến kết quả như nhau. Một khi hành giả thâm nhập tự tánh, lúc bấy giờ lòng từ hiển lộ trọn vẹn mà không phải nhờ sự cố gắng thể hiện tình thương bởi ý thức.

Kỷ niệm công hạnh của một tình thương bao la đó, tôn tượng được hàng vạn tín đồ Phật giáo Bắc truyền luôn đặt niềm tin lúc gặp tai ương, khẩn cầu khi hoạn nạn, ước vọng khi chưa hoàn thành…Kỷ niệm ngày vía Đức Bồ tát Quán Thế Âm, chùa mang tên Ngài tại núi Ngũ hành, Đà Nẵng cũng đã thiết lập lễ hội ngày càng đa dạng do TT Thích Huệ Vinh khởi xướng, đặc biệt có sự tham dự của đoàn Phật giáo Nam Hàn và các đoàn thể bảo lưu văn hóa cổ truyền. Một số bộ môn giải trí lành mạnh cũng được trình diễn. Làng Mai cũng có một ca điệu về Bồ Tát Quán Thế Âm rất thiền vị. Cả chùa chiền, am tự và tư nhân đều tôn kính Ngài, cho thấy niềm tin của quần chúng Phật tử đặt trọn vẹn vào lòng từ bao la đó. Tôn kính Bồ Tát Quán thế Âm là tôn kính lòng từ của chính mình, đó là cách hóa giải mọi ngăn cách con người với con người, con người và mọi sinh vật.

Cư sĩ MINH MẪN 

(22/3/2019  nhằm ngày 17/2/ Kỷ Hợi)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên