chs14.jpg

(Ảnh: Thái Dũng, Chùa Thiên Việt, Ba-Lan, 2009)

Trong số những nhân vật lịch sử kiệt xuất của thế kỷ thứ 10, một thế kỷ đầy những biến động lịch sử dữ dội, tạo nền móng vững chắc cho sự nghiệp khôi phục độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phục hưng văn hóa Đại Việt, thì nhà sư “Khuông Việt” Ngô Chân Lưu nổi bật lên như một nhà tri thức lớn, tinh thông cả Nho, Phật, Lão, một nhà văn hóa đầy tài năng, đã phục vụ có hiệu quả công cuộc bảo vệ nền độc lập non trẻ ở cả hai triều đại chính thống đầu tiên của lịch sử dân tộc là triều Đinh và triều Lê.

Chính sử ghi chép về hai triều Đinh-Lê rất ngắn, nhưng cũng dành cho Ngô Chân Lưu những dòng trân trọng:

“Tân Mùi, [Thái Bình] năm thứ 2 (971), Tăng Thống Ngô Chân Lưu được ban tên Khuông Việt đại sư” (Toàn thư, Bản kỷ Q1, t.3b).

“Đinh Hợi [Thiên Phúc] năm thứ 8 [987], Nhà Tống sai Lý Giác sang ta… Khi Giác từ biệt ra về, vua sai Khuông Việt làm bài hát để tiễn… ( Toàn thư, Q1, t.18b).

“Bài hát” mà Ngô Chân Lưu sáng tác để tặng sứ Tống, được Toàn thư chép lại nguyên văn.

Về tiểu sử của Ngô Chân Lưu, sách sớm nhất hiện được biết có viết về ông là Thiền Uyển tập anh (A.3144 Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Sách này cho biết: Khuông Việt đại sư chùa Phật Đà, hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, trước tên là Chân Lưu, là người Cát Lợi, họ Ngô, dòng dõi Ngô Thuận Đế”.

Những tên (hương) “Cát Lợi”, (huyện) “Thường Lạc” là những địa danh cổ, mà suốt tiến trình lịch sử biến động lâu dài của nó, chưa thấy có sách nào ghi chú.

Giáo sư Đào Duy Anh, trong Đất nước Việt Nam qua cỏc đời, đó căn cứ theo Thỏi Bỡnh hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, núi huyện Thường Lạc sau đổi là huyện An Thuận, ở về Đụng nam chõu Ái, cho rằng hương Cỏt Lợi huyện Thường Lạc thuộc Tĩnh Gia, Thanh Húa ngày nay. Thơ văn Lý – Trần Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1977, tr.208), cũng theo thuyết này.

Giáo sư Bùi Văn Nguyên, chưa rõ căn cứ vào tài liệu nào, đã khẳng định trong một công trình của ông xuất bản gần đây rằng: “Tăng Thống Ngô Chân Lưu, họ Ngô, người Chân Định, Nam Chân(1).

Về tên hương “Cát Lợi”, Toàn thư có một lần nhắc tới. ấy là khi ghi lại sự kiện Nguyễn Bặc, Đinh Điền kéo quân về đánh Lê Hoàn, bị thất bại và chết. Phạm Hạp cũng bỏ chạy: “Điền, Bặc đã chết. Quân Phạm Hạp mất hết khí thế, tan chạy về hương Cát Lợi ở “Bắc Giang” ( Toàn thư, Bản kỷ, Q 1, tờ 7a).

Bắc Giang là chỉ một vùng đất rộng lớn phía bắc sông Hồng, gồm tỉnh Bắc Ninh cũ và một phần đất tỉnh Vĩnh Yên cũ. Vì thế, vị trí cụ thể của hương Cát Lợi, rất khó xác định.

Thiền Uyển tập anh khi kể về những hoạt động của Ngô Chân Lưu, có một đoạn đáng lưu ý: “Ông thường đi lại vùng núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, ưa phong cảnh yên tĩnh tươi đẹp nơi đây, định dựng am để ở”, có thể nghĩ rằng, hương Cát Lợi, có chùa Phật Đà, quê hương của Ngô Chân Lưu cũng không xa vùng núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, nên Ngô Chân Lưu mới năng lưu tới nơi đó.

Từ suy nghĩ ấy, chúng tôi để tâm tìm tòi những tư liệu của các thôn xã vùng này.

Sau các đợt sưu tầm di văn của các di tích lịch sử, văn hóa Hà Nội, và các chuyến sưu tầm tài liệu Hán Nôm hàng năm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm gần đây, chúng tôi có điều kiện tiếp xúc với 2 tấm bia nói tới Ngô Chân Lưu như một danh nhân của “quê hương mình”.

Hai tấm bia này, hiện còn lưu giữ ở chùa Cửa Rừng, thôn Thụy Hương, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn.

Tấm thứ nhất ghi niên đại Chính Hoà thứ 12 (1691), tháng 8, có tên là Tư văn bi ký.Phần đầu bia ghi lời khấn tiên thánh, tiên sư và các tiên hiền của xã. Nguyên văn có đoạn: “Cung duy: Tiên thánh, Tiên sư tính bản xã tiên hiền: Đinh triều Quốc sử Khuông Việt, Trần triều Thái thú Trịnh quân, chỉ huy nho Nguyễn công, tự Túc Hiên tiên sinh…”

Bia khẳng định Quốc sư Khuông Việt triều Đinh là tiên hiền của “bản xã”.

Tấm bia do những người có chân khoa trường như Nguyễn Đăng Dụng, Nguyễn Cao Tuấn, Nguyễn Đình Quý, những người dự giáp tư văn như Nguyễn Phú, Ngô Vĩ… Hội trưởng Nguyễn Chính, xã trưởng Nguyễn Trần Ngôn… dựng lập.

Nội dung bia có đoạn (dịch):

“Nghe rằng: Tư văn dựng hay bỏ, liên quan đến thế đạo; phong tục tốt hay xấu, gắn liền với lòng người. ấp ta trước đây văn vật, rất hanh thông, các bậc chân Nho nối nhau ra đời. Có người quyền to như quân sư Khuông Việt, cổ vũ phong hóa ở Kinh đô(1), có người chức trọng như vị chỉ huy Nho học, tưới nhuần mưa giáo nơi thôn xóm(2). Có người làm Thái thú giúp vua, có người cai trị nơi phiên trấn, cũng có người coi dân nơi phủ huyện. Trong triều, ngoài nội, cùng lúc được dùng; cha con, anh em nối nhau đỗ đạt. Dùng trong một nước thì chính sự hoàn thành; dùng ở một làng thì phong tục thuần mĩ. Chẳng những văn vật tốt đẹp mà cũng là dân phong hưng thịnh vậy!”.

Tấm bia được dựng trong bối cảnh chủ trương chấn hưng văn hóa dân tộc của vua Quang Trung đã xuống đến cơ sở thôn xã. Toàn dân thôn Đoài, xã Da Hạ, huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà, nay là thôn Thụy Hướng, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, mà tiêu biểu là những người dự giáp tư văn, ông hội trưởng, ông xã trưởng… tự hào tưởng niệm các bậc tiên hiền của xã, mà tiêu biểu là “Quốc sư Khuông Việt”.

Vì “Quốc sư Khuông Việt” triều Đinh này, có thể là ai khác ngoài Tăng Thống Ngô Chân Lưu thế kỷ thứ 10 không?

Trong lịch sử tồn tại 13 năm ngắn ngủi của mình, (968 – 980), nhà Đinh chỉ một lần ban danh hiệu “Khuông Việt đại sư” cho Tăng Thống Ngô Chân Lưu vào năm 971 (năm Tân Mùi, niên hiệu Thái Bình thứ 2). Ngoài ra, không một nhà sư nào được tặng danh hiệu cao quí ấy.

Như vậy là: với hai tấm bia có niên đại cách nhau 100 năm hiện còn giữ lại được (Tư văn bi ký dựng năm 1691 và Bản thôn tạo thạch bi ký dựng năm 1792), ta có thể khẳng định: quê quán của Ngô Chân Lưu, hiệu Khuông Việt đại sư, làm Tăng thống triều Đinh Lê, là ở thôn Đoài, xã Do Hạ, huyện Kim Hoa, phủ Bắc Hà (địa danh thế kỷ XVII – XVIII); mà trước đây, thời Đinh Lê, có tên là hương Cát Lợi. Điều này phù hợp với ghi chép của chính sử: “hương Cát Lợi ở Bắc Giang”; cũng phù hợp với ghi chép của Thiền Uyển tập anh nói rằng Ngô Chân Lưu thường đi lại vùng núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ.

Đến đây, có thể ghi địa chỉ của Ngô Chân Lưu như sau: Tăng Thống Ngô Chân Lưu, được ban danh hiệu Khuông Việt đại sư năm 971, quê quán tại hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, sau là thôn Đoài xã Da Hạ, huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà, nay là thôn Thụy Hương, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

H.V.L

CHÚ THÍCH

(1) Nguyên văn bia ghi là “Hoa Hạ”, được dùng với nghĩa là “trung tâm văn hóa”, là “Kinh đô”.

(2) Nguyên văn bia ghi là “Lý nhân, nơi ở của bậc hiền tài, được dùng với nghĩa là nơi hương thôn./.

 

HOÀNG VĂN LÂU (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26) 1996)

BÌNH LUẬN

Nội dung bình luận
Vui lòng nhập tên