Về trang chủ
, 14:19 (GMT+7)
Phật Giáo Việt Nam
Trắc nghiệm trực tuyến
Bài giảng
Đề cương: Luận Câu-xá (9) Phân biệt trí
10/09/2009 16:02 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Giảng viên: Đ.Đ. Thích Giác Hiệp

tnhv0917.JPG
(Lễ tốt nghiệp Khóa VI, Học Viện Phật giáo VN tại TP.HCM)

I.            Ý chính của phẩm:

A.  Mối tương quan giữa Nhẫn, Trí, Kiến

B.   Đặc tính của 10 trí

C.   Khía cạnh của 10 trí

D.  Phân tích 10 trí

E.   18 pháp bất cộng

F.   Công đức phổ thông

II.          Nội dung:

Bằng cách phát triển, hoàn thiện tinh thần chúng ta phát huy được năng lực trí trí. Trí tuệ rất quan trọng, nhờ trí tuệ mà các lậu hoặc được đoạn trừ. Thế trí không có khả năng này. 

A. Mối tương quan giữa Nhẫn, Trí, Kiến:

Thể của nhẫn, trí, kiến là tuệ tâm sở. Tuy nhiên do tuệ tâm sở có các tác dụng khác nhau nên có 3 tên gọi này.

- Tuệ tâm sở suy đạt gọi là kiến

- Tuệ tâm sở quyết đoán gọi là trí

- Tuệ tâm sở chấp nhận gọi là nhẫn

 B. Các loại trí:

Luận Câu xá nêu:

 智十總有二   有漏無漏別

有漏稱世俗   無漏名法類(Đ.29.134.3)

Trí thập tổng hữu nhị, Hữu lậu Vô lậu biệt

Hữu lậu xưng thế tục, Vô lậu danh pháp loại

(tất cả có 10 trí chia làm 2 loại, hữu lậu và vô lậu, hữu lậu gọi là thế tục, vô lậu gọi là pháp, và loại trí)

  1. Trí hữu lậu: 

Sự hiểu biết hạn cuộc trong phạm vi thế gian, như: sơn, hà, đại địa, nó còn bị đối trị. Do những đặc tính giới hạn này nên nó được gọi là trí thế tục.

  1. Trí vô lậu:

Trí vô lậu là loại trí tuệ thanh tịnh, không bị các loại phiền não chi phối. Nó gồm 2 loại: Pháp trí và Loại trí

a. Pháp trí: là trí tuệ biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên.

b. Loại trí: là trí cùng loại tương tợ với Pháp trí, có khả năng biết lý Tứ đế của 2 cõi trên ngang qua lý Tứ đế ở cõi Dục. Do vậy cho nên có khả năng dứt trừ mọi phiền não do mê lý Tứ đế của 2 cõi trên.

Ngoài ra còn có 4 thứ: Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Đạo trí. Chúng có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên. Ở Vô học vị khởi lên 2 loại trí: a. Tận trí và, b. Vô sinh trí.

a. Tận trí: Bậc Thánh vô học biết rằng: ta đã biết khổ, ta đã dứt tập, ta đã chứng diệt, ta đã tu đạo. Đó gọi là Tận trí vì trí này biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế.

云何盡智。謂無學位若正自知我已知苦。我已斷集。我已證滅。我已

修道。由此所有智見明覺解慧光觀是名盡智。(Đ.29.135.1)

b. Vô sinh trí: Vô sinh trí là đối với tác dụng biết, đoạn, chứng, tu thành tựu được phi trạch diệt. Gọi là vô sinh.

云何無生智。謂正自知我已知苦不應更知。廣說乃至。我已修道不應更修。由 此所有廣說乃至。是名無生智。(Đ.29.135.1)

Ngoài ra còn có Tha tâm trí. Đây là trí biết được tâm tư của kẻ khác.

Tóm lại có tất cả 10 trí: thế tục trí, pháp trí, loại trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tha tâm trí, tận trí, vô sinh trí. Sở dĩ hữu lậu trí và vô lậu trí lại chia ra làm 10 trí là vì 7 duyên. Luận Câu xá nói:

 由自性對治  行相行相境

 加行辦因圓  故建立十智 (Đ.29.135.2)

Do tự tánh, đối trị, hành tướng, hành tướng cảnh

Gia hạnh, biện, nhân viên, cố kiến lập thập trí

a.            自性故立世 俗智 Do tự tánh nên lập thế tục trí. Vì thế tục trí là pháp hữu lậu thế tục không thể lấy trí thắng nghĩa vô lậu làm tự tánh.

b.           對治故立法 類智Do đối trị mà lập ra pháp trí, loại trí. Vì hai trí này có khả năng đối trị phiền não của cõi Dục và 2 cõi trên.

c.            行相故立苦 集智 Do hành tướng khác biệt nên lập ra khổ trí, tập trí.

d.           行相境故立滅 道智 Do hành tướng và cảnh lập ra diệt trí, đạo trí. Vì về hành tướng năng duyên của 2 trí này không đồng nhau.

e.            加行故立他 心智Do gia hạnh mà lập ra tha tâm trí.

f.            事辦故建立盡智 Do việc đã thành tựu nên lập ra tận trí.

g.            因圓故立無生智 Do nhân viên mãn lập ra Vô sinh trí.

  C. HÀNH TƯỚNG CỦA TRÍ:

Trong 10 trí, Pháp trí duyên Tứ đế của cõi Dục hiện ra 16 hành tướng. Pháp trí duyên 2 cõi trên cũng hiện ra 16 hành tướng. Câu xá tụng:

行相實十六  此體唯是慧 (Đ.29.137.1)  

Hành tướng thật thập lục, thử thể duy thị tuệ

Tu hành 16 hành tướng để đối trị 16 bệnh vọng chấp.

1. Quán 4 hành tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã của Khổ đế là để đối trị bốn vọng chấp: chấp thường, chấp lạc, chấp ngã sở (tức các sở hữu của ta), chấp ngã.

2. Quán 4 hành tướng: nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế để đối trị bốn vọng chấp của ngoại đạo: vô nhân luận, nhất nhân luận, thường nhân luận, năng sinh luận.

3. Quán 4 hành tướng: diệt, tịnh, diệu, ly của Diệt đế để đối trị bốn vọng chấp: sinh cõi trời tự tại là niết bàn, tự thể sẵn giải thoát, niết bàn là hoại diệt như bị bùa chú, giải thoát rồi vẫn sinh tử.

4. Quán bốn hành tướng: đạo, như, hành, xuất của Đạo đế để đối trị bốn vọng chấp: không có đạo giải thoát, khổ hạnh là chánh đạo giải thoát, không tu đạo mà sinh tử vẫn thanh tịnh, chấp Thánh đạo không có khả năng giải thoát.

D. Công đức riêng biệt (18 pháp bất cộng):

Luận Câu xá nói: 

十八不共法  謂佛十力等

論曰。佛十力四無畏三念住及大悲。如是 合名為十八不共法。(Đ.29.140.2)

Đây là những công đức của Phật, đặc biệt chỉ có Phật mới đạt được, các vị Thánh khác và phàm phu không có được. Cho nên gọi là bất cộng công đức, có 18 thứ: 10 lực, 4 vô uý, 3 niệm trụ và đại bi tâm

 

1. 10 lực: không gì lay chuyển được

 

a. Xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ Phật mà thật thể là 10 trí vừa nói trên biết rõ việc gì hợp lý, không hợp lý.

b. Nghiệp báo trí lực: Trí biết rõ nghiệp nhân như vậy sẽ cảm quả báo như vậy.

c. Tịnh lự giải thoát đẳng trí lực: Trí biết đúng thật về các thiền định giải thoát.

d. Căn thượng hạ trí lực: trí biết rõ căn tánh cao thấp của chúng sanh.

e. Chủng chủng thắng giải trí lực: trí biết rõ tâm niệm mừng vui, quyết đoán của chúng sanh.

f. Chủng chủng giới trí lực: trí biết được mọi tính loại sai khác của chúng sinh.

g. Biến thủ hành trí lực: Tất cả các pháp hành đều đưa đến quả, chỉ Phật mới biết rõ.

h. Túc trú tuỳ niệm trí lực: trí biết rõ những đời quá khứ của mình

i. Túc trú sinh tử trí lực: trí biết rõ chúng sinh chết chỗ này sinh chỗ nọ.

j. Lậu tận trí lực: Trí chứng nhập niết bàn, trạch diệt.

 

2. Bốn vô uý:

a. Chánh đẳng giác vô uý

b. lậu tận vô uý

c. nói pháp chướng đạo vô uý

d. Nói pháp diệt tận khổ vô uý

 

3. Ba niệm trụ: Phật luôn an trụ trong chánh niệm, chánh tri.

a. Khi duyên cảnh thuận không sinh tâm hoan hỷ.

b. Khi duyên cảnh nghịch không sinh tâm lo buồn.

c. Khi duyên cảnh không thuận nghịch không sinh tâm hoan hỷ và lo buồn.

 

4. Đại bi: Đại bi ở đây khác với bi, Đại bi lấy trí thế tục làm thể. Vì nó duyên đến chúng sinh đau khổ trong 3 đời. Có đủ 5 nghĩa như sau mới gọi là đại (Đ.29.141.1):

a. 資糧 Tư lương đại: nhờ đại phước đức, đại trí tuệ làm tư lương mới thành tựu được.

b. 行相 Hành tướng đại: vì có năng lực dứt 3 thư khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) cho chúng sinh.

c. 所緣 Sở duyên đại: duyên khắp tất cả chúng sinh trong 3 cõi.

d. 平等 Bình đẳng đại: làm lợi ích cho tất cả chúng sinh không phân biệt thân, sơ.

e. 上品Thượng phẩm đại: ở phẩm bậc cao nhất không còn tâm tâm bi nào sánh bằng. nên đem đại bi tâm này so sánh với bi tâm khác có 8 sự bất đồng.

E. Công đức phổ thông:

Những công đức của Phật đạt được hàng Thánh và phàm phu cũng có thể đạt được, như 3 loại mà hàng Thanh văn cũng đạt được:

1.        Hạnh vô tránh:

2.       Nguyện trí:

3.       Bốn vô ngại giải:

                無礙解有四  謂法義詞辯

                名義言說道  無退智為性(Đ.29.142.1)

III. Kết Luận:

-      Có những lọai trí chỉ có Phật chứng đạt

-      Có những lọai trí Phật, Thinh văn, chúng sanh

-      Trí là nhân đạt giác ngộ

-      Trí tuệ có được là nhờ vào sức tu tập, gia hạnh hữu lậu dần dần phát đạt cho đến tận trí, vô sinh trí.

 

Giảng viên: Đ.Đ. Thích Giác Hiệp

Các tin đã đăng:
Đề cương: Luận Câu-xá (11) Phá ngã chấp
Số lượt truy cập
vistor counter
Tịnh thất Hiệp Giác-Buddhist Retreat Center