Giảng viên: Đ.Đ. Thích Giác Hiệp

(Các vị giảng viên Học Viện Phật giáo VN tại TP.HCM, Lễ tốt nghiệp Khóa VI)
Định là pháp tu giúp hành giả chứng đạt giác ngộ. Thực hành thiền định giúp hành giả kiểm sóat các căn, tiến xa hơn nữa phá trừ chấp ngã. Như vậy, thiền định là pháp tu căn bản.
I. Cấu trúc phẩm:
A. Giới thiệu tổng quát
1. Bốn định sắc
a. Chú tâm đối tượng
b. Định nghĩa
c. Giá trị đạo đức thiền định
d. Đặc tính 4 định
2. Bốn định vô sắc:
a. Tên 4 lọai định
b. Định thanh tịnh
c. Định không thanh tịnh
B. Tổng kết
II. Nội Dung:
A. BỐN TỊNH LỰ
Ðịnh có hai:
1. Sanh đắc định: khi sinh tự nhiên có định, nhờ tu tập từ trước.
2. Tu đắc định: nhờ tu tập dần dần chứng đắc.
1. Sơ thiền:
初 具伺喜樂 後漸離前支(Đ.29.145)
Trong lúc chuyên chú tâm vào một đối tượng nào đó, tình dục dần dần bị loại trừ, và tiến đến tiêu diệt tâm ác. Và trong trạng thái xa lìa dục và ác ấy người tu thiền cảm thấy vui mừng và an nhiên tự tại. Nghĩa là hành giả nếm được mùi vị an lạc của pháp. Tuy nhiên ở giai đoạn này đã có sự phân biệt đối tượng và còn có tư lự cho nên về phương diện biểu tượng vẫn chưa được trầm tĩnh. Cho nên gọi là sơ thiền, tức chỉ cho bậc đầu tiên chuyên tâm trầm tĩnh về tinh thần.
2. Nhị thiền:
內淨即信根 喜即是喜受 (Đ.29.146.3)
Nghĩa là nếu hành giả chứng được Nhị thiền, thâm tín được phát sinh
Hành giả cứ như thế mà tu hành tiến lên nữa cho đến khi phương diện biểu tượng cũng trầm tĩnh, không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập trung vào một điểm duy nhất. trên nhờ sự trầm tĩnh về phương diện tinh thần hành giả cảm thấy vui mừng, còn ở đây nhờ sự trầm tĩnh về phương diện biểu tượng mà hành giả cảm nhận niềm vui. Ở đây hành giả cùng một lúc điều phục được tình ý và chế ngự sự tạp loạn của biểu tượng.
3. Tam thiền: Cứ như thế tu hành tiến thêm một bước nữa, bỏ tâm an vui, trở về với trạng thái hoàn toàn bình tĩnh, cho đến chánh niệm, chính trí, thân thể đạt đến cảnh giới nhẹ nhàng. Đây gọi là Tam thiền. Chỉ cho sự giải thoát cả niềm vui sướng đã đạt được ở nhị thiền. Tâm tập trung ở đây cũng bắt đầu phát sinh tác dụng tuệ tri.
4. Tứ thiền: Từ đây tiến thêm nữa thì sự nhẹ nhàng của thân thể cúng không còn, tựa hồ như không còn thấy sự tồn tại của nó, hoàn toàn siêu việt tâm khổ vui; sự bình tĩnh càng được thuần hoá đến bất động để trở thành trạng thái sáng như mặt gương, ngưng tụ và phẳng lặng như nước không gợn sóng. Đây là tứ thiền. Đến giai đoạn này hành giả thấy suốt đối tượng của quán tưởng là bản thân của mình. Nghĩa là tâm cảnh tuyệt đối bình đẳng, không còn thấy có chủ quan khách quan đối đãi nữa.
B. BỐN ÐỊNH VÔ SẮC
1. Không vô biên xứ: là lối tu khám phá tất cả mọi quan niệm vật chất, chỉ nghĩ về không gian vô biên, trong tâm cắt đứt với mọi tướng sai biệt của ngoại giới. Kinh Trung A-hàm, kinh Phân biệt quán pháp, kinh số 164, nói:
2. Thức vô biên xứ: Tiến lên tiếp xúc với nội giới mà suy niệm về các tướng sai biệt sinh khởi trong thức.
3. Vô sở hữu xứ: là pháp tu tiến hơn nữa, siêu việt cả không gian và thức, đi đến chỗ quán tưởng hết thảy sự tồn tại vật chất đều không có.
4. Phi tưởng phi phi tưởng: Ba định trước tuy đã tiêu diệt hết các tướng sai biệt trong và ngoài để đi đến chân không, nhưng vẫn còn tưởng hết thảy không. Cho nên, lại phải tiến lên một bậc nữa, tu tập vô tưởng mà cũng không phải vô tưởng, tức là pháp tu định hoàn toàn thấu suốt quan niệm tất cả không. So với Tứ thiền điều hoà cả chỉ và quán thì Tứ vô sắc định chuyên về phương diện chỉ mà thôi.
Bốn tịnh lự và bốn định vô sắc cũng còn gọi là tám đẳng chí.
Ngoài Bát đẳng chí ra còn có một loại định tương tự như đinh Phi tưởng phi phi tưởng, đó là Diệt thọ tưởng định. Đến bậc này thì cả thọ lẫn tưởng đều hoàn toàn tiêu diệt. Theo diễn tả thì người tu định này chẳng khác gì người chết, duy có điểm khác nhau đó là người chết đã chấm dứt mọi hoạt động của 3 nghiệp thân, khẩu, ý, hơi ấm, năm cảm quan bị phá huỷ, còn người tu định này thì 5 căn vẫn còn y nguyên, thọ, hơi ấm không mất.
C. BỐN THỨ TỊNH ÐỊNH
Chia tịnh đẳng chí ở trên ra làm bốn phần:
1. Thuận thối phần định, là thuận với phiền não dễ bị thối thất
2. Thuận trú phần định là thuận với tự địa mà an trú, không thối không tiến
3. Thuận thắng tấn định là thuận theo đị trên mà tiến lên
4. Thuận quyết trạch phần định là thuận với vô lậu tiến đến kiến đạo
D. Công đức nhờ thành tựu định
1. Bốn vô lượng tâm
2. Tám giải thoát
3. Tám thắng xứ và mười biến xứ
勝處有八種 二如初解脫
次二如第二 後四如第三(Đ.29.151.3)
III. Kết luận: