Giác ngộ-Xả ly-Giải thoát

 
Tìm kiếm
Thư viện hình ảnh
Âm lịch
Liên kết Website
Trắc nghiệm
Facebook Fanpage

QUAN NIỆM VỀ TỊNH ĐỘ


 

Không có điều gì của Luân Hồi khác biệt với Niết Bàn.

Không có điều gì của Niết Bàn khác biệt với Luân Hồi.
Long Thọ Đại Sĩ (Căn bản Trung Quán Luận Tụng – XXV:19)

Những dòng kệ nổi tiếng này của Long Thọ vang dội xuyên suốt chiều dài của lịch sử Đại Thừa Phật giáo. Các hành giả tu tập theo Trường phái Tịnh Độ xem Cực Lạc như một cảnh giới siêu việt của chơn tâm, tách biệt “vọng tâm” khỏi thế giới Luân Hồi với những vòng bất tận của khổ đau vô nghĩa. Giáo nghĩa Tịnh Độ, chỉ ra cho hành giả một con đường hòa nhập tuệ giác, rất phù hợp với tư tưởng “Tánh không” của Trung Quán. Quan  điểm Tịnh Độ từ những bài kinh căn bản do đức Phật thuyết rất phổ biến từ ngàn xưa ngày nay, ý tưởng đó là không có điều gì khác hơn Cực Lạc tự nó được xem như tương đương với Niết Bàn.

Gần đây xuất hiện một số quan điểm bóp méo thông điệp chân thật cũng như nguy hại với nhận thức cho sự tu tập theo tông Tịnh Độ là quê mùa của sự tin tưởng bình dân, Kinh Di Đà không do Phật thuyết… Trong một tác phẩm sâu sắc về Đạo Phật, Edward Conze đã trình bày một cách chân thành về Niết Bàn Phật Giáo:

“Chúng ta được nghe nói rằng Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh, bất diệt, bất sinh, không già, không chết, vững chãi, không dính mắc và đấy là năng lực, an lạc, hạnh phúc, nơi nương tựa an toàn, nơi trú ẩn, và nơi bảo đảm không thể bị tấn công; đấy là Chân Lý Thật Sự và Thực Tại Tối Thượng; Phẩm chất Cao Thượng, mục tiêu siêu việt và là một sự hoàn thành và duy nhất của đời sống của chúng ta, sự Hòa Bình bất diệt, ẩn tàng và bất khả tư nghì”.

Thế giới chúng ta đang sống được Đức Phật diễn tả: “biến dị, vô thường, nguy hiểm, băn khoăn bất an, và sầu não”. Qua sự chứng đắc, Ngài đã dạy Trưởng lão Xá Lợi Phất:

“… Các ông hãy hướng tâm về phía Tây từ đây, qua mười muôn ức cõi Phật, các ông sẽ gặp một Phật quốc gọi là Cực Lạc, nơi có Đức Phật hiệu là A Di Đà. Ngài đang an trú ở đấy, và đang giảng dạy Giáo Pháp.” [1]

Trong những truyền thống hữu thần, có một sự khác biệt rõ ràng giữa thế giới thường ngày và, thế giới “Thiên đàng”, có thể hiểu như sự duy trì những chủ đề rõ ràng của hy vọng và ý chí cho dù xảy ra sau sự chết, hiệp thông sự thánh thiện và toàn năng của Thượng Đế.

Đạo Phật không bao giờ hình thành nên bất cứ một chủ thuyết nào như vậy cũng như nó không bao giờ nhìn nhận một sự sáng thế như được vạch ra một cách cứng nhắc của niềm tin bởi thuyết hữu thần mà nhiều người biết đến.

Đức Phật, sử dụng tuệ giác, Ngài hướng dẫn đệ tử quán chiếu các pháp như thật tướng, để không bị Tam giới sinh diệt làm điên đảo. Sự phản chiếu của tâm thức đó là kết quả đưa đến tuệ giác vô thượng mà Ngài đã chứng đắc. Từ thực chứng đó, ngày nay hầu hết Phật tử trên thế giới hướng đến “Tam nghiệp hằng thanh tinh; đồng Phật vãng Tây phương.” Biểu hiện của một thể trạng giải thoát hoàn toàn khỏi si mê và khổ đau. Thân sinh diệt chúng sinh giờ đây hòa nhập thể “Pháp Thân như Chân Như” hay thực tại thánh thiện tuyệt đối được biểu hiện qua những thuộc tính ‘thường, lạc, ngã, tịnh’.

Pháp Thân siêu việt trong cảm giác, nên nó không thể được nhận diện với những giác quan của thế gian hay sự thông minh của con người; đấy là nó vượt ngoài bất cứ điều gì chúng ta có thể hình dung hay nhận thức. Theo Hoa Nghiêm: “Toàn bộ sự đa dạng của kinh nghiệm chúng sinh và thế giới kinh nghiệm-chủ thể và đối tượng, đúng và sai, thanh tịnh và nhiễm ô, ẩn tàng và biểu hiện-được thấy dựa trên, hay sinh trưởng từ, một nguồn gốc siêu hình thông thường”.

Chúng ta có thể thấy khởi đầu của giáo lý này qua sự biểu hiện Đức Phật Thường Trụ của Kinh Pháp Hoa, Đức Phật Vô Lượng Quang hay Đức Phật A Di Đà… nhìn toàn bộ thực tại với chính Pháp Thân: “…toàn bộ vũ trụ là một sự biểu hiện, một sự phát ra của thần lực thái dương trung tâm, Đại Tỳ Lô Giá Na hướng tới là tất cả sự hợp nhất chuyển động và từ đấy sự đa dạng của thế giới hiện tượng hình thành sắc tướng”. Giống như mặt trời phát ra ánh sáng và sức nóng hay một bông hoa tỏa mùi thơm của nó. Không có dự kiến tâm thức hay ý chí tạo hóa từ hư vô.

 Chân Như, là một hệ quả của bản thể vô tận của chính nó, mang lấy vô lượng hình tướng giới hạn để biểu lộ chính nó như thế giới. Thiền Sư D.T. Suzuki đã từng nói rằng: “Pháp Thân, tự biểu hiện ‘tính không’ và không có sự hiện hữu của thân thể vật lý, mà phải tự hiện thân trong một hình tướng và được biểu hiện như cây trúc, cây tre, vô số hoa lá, như một con cá, một con người, như một vị Bồ Tát, như một tâm thức, v.v…”

Tịnh Độ Phật Giáo, là sự cần thiết để làm cho Phật Giáo Chân Thực càng có thể tiếp cận càng nhiều càng tốt đến những người bình thường qua việc sử dụng sự phong phú và biểu tượng tích cực được thiết lập để nâng cao sự ngưỡng mộ cho giác ngộ.

Sự nhận thức đúng đắn trong hoàn cảnh của “ngũ trược ác thế” là quá khó khăn để đạt đến giác ngộ hoàn toàn trong đời sống hiện tại của con người. Cho nên vai trò của Tịnh Độ ngày nay hơn hẳn bất cứ truyền thống Phật Pháp nào khác. Tịnh Độ Tông đã thấm nhuần và chia sẻ mật thiết với con người qua đời sống khổ đau và luân hồi. Con người đang đối mặt với sự yếu kém cá nhân và những chướng ngại của sân hận, tham lam và si ám trong việc theo đuổi sự nghiệp giác ngộ.

Bất chấp những nhược điểm không thể tận trừ và những nghịch lý của tình trạng con người, giáo huấn Tịnh Độ đáp ứng hy vọng[2] cho những ai “tin” về tâm linh, nhưng không tin vào bản thân “nhập Phật tri kiến”[3] của họ thì sự bảo đảm giải thoát tối hậu và giác ngộ qua trung gian của Đức Phật Di Đà như không gian đặc thù và đầy tính năng động  của Niết-Bàn, như các trường phái khác hướng đến.

Do đó, thế giới Ta bà như thế này không thể xem như một mục tiêu chính đáng của sự ngưỡng mộ tâm linh “phiền não tức bồ đề” để thuyết phục người ta rằng “Thế giới ta bà này là đồng nhất với Tịnh Độ trong bản thể, nếu chúng ta có thể đào sâu niềm tin của chúng ta để nhận thức nó!”

Muốn vậy, chỉ có một việc đơn giản là sự đồng nhất khái niệm cho những ai không thể đi đến những giới hạn về tri thức: “tất cả những nỗi khổ đau sinh diệt của thế giới chúng ta, là bản thể tự nhiên của niết bàn”. Ngay cả một người Bồ đề tâm bất thối rồi, còn chưa nhận ra ngược đãi của thiên nhiên là giúp cho con người dừng lại mà không chạy theo sự quay cuồng của nhân loại ngày nay. Nhìn ra thiên tai hạn hán mất mùa đang diễn ra đâu đó trên thế giới ngày nay không phải là thảm họa, mà phải biết những nguyên nhân kia là hậu quả của lòng tham vô tận của nhân sinh. Nhân loại phải giật mình nhìn lại, và dừng những hành động hiếu chiến, hưởng thụ… Hiểu như vậy mới là con đường mà nhân loại cần hướng đến. Đó mới là hạnh phúc, đó mới là “diệu lạc”. Nhưng sự thật, nhân loại sẽ không tự nguyện dừng lại. Trong một trường hợp như thế “Tịnh Độ Phật quốc” sẽ là điểm tựa tốt nhất gạt bỏ thói quen hưởng thụ nhỏ nhoi hiện tại dẫn đến hậu quả luân hồi mai sau.

Giáo nghĩa Tịnh Độ dạy rằng thế giới này là một nơi không thể tránh khỏi khổ đau và chán chường, và Lạc quốc đầy màu sắc và của báu, khi sinh trong một thế giới khác tốt đẹp hơn Ta-bà, nơi mà bệnh tật, đớn đau, và chết chóc không hiện hữu. Thế giới Ta-bà này là một cái bẫy rập tuyệt vọng, vì vậy chúng ta chỉ có thể vượt thoát bằng năng lực của Đức Phật Di Đà. Nhưng tự thân phải trì niệm danh hiệu Phật đến “nhất tâm bất loạn” chúng sinh chắc chắn đạt đến việc vãng sinh Tịnh Độ, hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh.

Kinh nghiệm này phải là bậc đẳng giác, để truyền thụ tín  tâm, và đánh dấu sự thâm nhập vào tâm thức phàm phu của chúng sinh bởi Hào Quang Vô Lượng của Đức Phật A Di Đà. Khi ‘Tín’ được đánh thức từ vọng tâm của phàm phu mê muội và nhiễm ô, liền được tiếp cận ngay sự giới hạn của những gì ngôn ngữ có thể biểu lộ chân như, chứ nơi đây “ngôn ngữ trần gian là giỏ rách, chất không đầy hai tiếng mẹ ơi”, thì làm sao mà diễn đạt Niết-bàn. Hoàn cảnh như vậy, có lẽ nơi mà tốt nhất là hãy duy trì sự im lặng. Hoặc trì danh Phật hiệu:

Tay lần trăm tám hột châu,
Dứt trừ tội lỗi, buồn rầu tiêu tan,
Xa lìa khổ ác ba đàng,
Thế gian phiền lụy hóa toàn liên hoa.

Quan điểm này có sự đồng nhất với Thiền tông: “niệm Phật niệm tâm, tâm niệm Phật; Tham Thiền tham tánh, Tánh tham Thiền” Cho nên mới nói giáo lý Phật giáo là có đến tám muôn bốn ngàn pháp để giác ngộ.

Nam Mô A Di Đà Phật

01/06/2015

TT Thích Lệ Thọ

(Theo: Tuyển tập Tri Thức Phật giáo, số 13, tr.35-40)


 


[1] Kinh A Di Đà “Nhĩ thời Phật cáo Trưỡng Lão Xá Lợi Phất, tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật Độ hữu thế giới danh viết Cực Lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà đương hiện tại thuyết pháp”

[2] Đới nghiệp vãng sinh.

[3] Kinh Pháp Hoa.

BÌNH LUẬN








CÁC TIN LIÊN QUAN

1 2 3 4 5
TOP