Kim Cang Ngũ Trí Như Lai (tiếp theo) - Phật Giáo Việt Nam

Kim Cang Ngũ Trí Như Lai (tiếp theo) - Phật Giáo Việt Nam

KÍNH MỪNG LỄ VU LAN - BÁO HIẾU

 
Tìm kiếm
Thư viện hình ảnh
Âm lịch
Liên kết Website
Trắc nghiệm
Facebook Fanpage

Kim Cang Ngũ Trí Như Lai (tiếp theo)

2. A-súc Như Lai: (Akshobya Buddha=Bất Động Như Lai)

Màu sắc: Màu xanh nước biển: Sâu thẳm như đại dương, như bầu trời xanh biếc bao la.

Biểu tượng sự vô cùng tận của trí tuệ vô lậu, có năng lực dung chứa vô biên thế giới, thẩm thấu và chuyển hóa đi trăm nghìn phiền não chướng duyên.

Người thực tập phép “Vô thượng sư du già” ứng tưởng màu xanh đậm giữa lúc tiếp nhận năng lượng trí tuệ của chư Phật, qua vị thầy truyền lễ điểm đạo cho mình từ tâm-lồng ngực phát ra, là một kỷ năng làm cho trí tuệ như biển của mình-trí tuệ vô lậu, được khơi động lên, thì bao nhiêu phiền não chướng ngại sẽ được chuyển hóa toàn diện.

 Phương hướng: Thuộc Đông phương.

Trong đạo tự nhiên giới thường nhắc đến Phong Mộc, phong mộc ở đây, muốn nhấn mạnh đến năng lực khởi lên mạnh mẽ của mùa xuân, sự đổi mới của mọi hiện tượng.

Ý nói: Mọi vật đang manh nha, tiềm ẩn trong mùa đông, sắp sửa ló dạng và hiển hiện một cách mạnh mẽ ở mùa xuân đến.

Thời gian: Ứng với mùa Đông: Chủ về sự tiềm tàng, ẩn dật, nuôi dưỡng nội lực, để rồi hiển hiện lên vào đầu Xuân. Đây, ta có thể ngầm hiểu: Trí tuệ Phật được tiềm tàng ngay trong sự hiện diện của năm uẩn. Đối với cơ thể, thì người biết sống thuận theo lẽ đạo của trời đất, sẽ tiêu thụ những thứ bế tắc và có khả năng làm ấm áp châu thân, ngủ nghỉ đầy đủ, vận động nhẹ nhàng, dung dưỡng: Tinh, Khí và Thần.

Người thực tập chánh Pháp nên biết phát triển sự nhu hòa, nhẫn nhục để cho tình chí và khí lực ở chính kinh được sung mãn, gọi là: Dung dưỡng nội quang thánh thể, để có thể chuyển hóa những hiện tượng cực đoan của dòng tâm, ví dụ như: Tham chấp tự ngã, Sân hận và tà kiến...

Không gian: Dung chứa một năng lượng vô hình, to lớn không ngằn mé-năng lực chuyển hóa những hiện tượng tiêu cực thành tích cực-trở về nguyên thể của trung đạo, vượt tầm nhị nguyên đối đãi.Ví như khí xuân trong lành, sẽ hiện diện giữa lòng không gian vô tận.

Chủng tự: Hum 

Chủng tự Hum là tổng thể trí tuệ của tất cả chư Phật. Theo Mật pháp, nếu tâm ta đủ năng lượng cao của định, chủng tự Hum sẽ được ứng tưởng hóa nơi lồng ngực, chứa đựng tất cả năng lượng của trí tuệ hiểu biết. Khi có trí tuệ siêu việt thì những dụng công và chí nguyện về một điều gì ấy: Ví như chí nguyện cứu giúp chúng hữu tình không chừa một ai chẳng hạn; thường được thành quả mau chóng và chuẩn xác.

Vì thế, khi hành trì tâm chú, chủng tự Hum thường được sắp vào trung ương và tất cả các chủng tự của một bài thần chú được bao quanh theo một vòng tròn.

Kinh nói, trí tuệ sẽ chyển hóa đi được mọi phiền não. Một khi ta đạt được trí tuệ về không tự tánh của vạn pháp, tất cả các phiền não tự nhiên không còn hiện hành nữa.

Cho nên, niệm thần chú được phối hợp với sự ứng tưởng trong một dạng thức có chữ Hum nằm giữa một vòng tròn, bao bọc bởi các chủng tự của bài thần chú, sẽ làm cho năng lực của trí tuệ mình được tương ưng với trí tuệ của chư Phật. Cố nhiên, là một điều vô cùng linh ứng và hiệu nghiệm cho việc thực hiện giác ngộ.

Thủ ấn:  Xúc địa, ngón tay chạm mặt đất, trước lúc đạt cảnh giới toàn giác, Phật chạm ngón tay trên mặt đất. Biểu trưng cho sự vững chãi, chắc chắn không thể lay chuyển, không nghi về sự tọa lạc kiên định của ngài đối với ma chướng của nội thể và thiên ma vương trong các cõi.

Đại địa rúng động 3 lần như tiếng rống của sư tử, khi Phật chạm ngón tay vào mặt đất. Đây là một biểu tượng đại hùng lực của chư Phật mười phương ba đời.

Tịnh độ: Đông phương tịnh độ Abhirati

Tịnh độ này là đá kim cương toàn hảo, chiếu diệu ánh sáng vô biên, quét sạch đi những tiềm năng ác nghiệp của chúng sanh, giúp họ có cơ hội tự thấy được Phật tâm của chính họ.

Thiên ma ba tuần khi thấy ánh sáng của tịnh độ này đều được rung động mạnh chuyển hóa bớt đi tiềm năng chấp thủ.

Vì vậy, khi được một vị Du Già Sư đủ tiêu chuẩn thi triển phép Quán đảnh, ngài Đại Bồ-tát Kim Cang Thủ sẽ hiển hiện trong dòng tâm liên tục mà giúp hành giả chuyển hóa đi bốn loại ma của: Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Tử ma và Thiên ma, cố nhiên, giúp sức cho hành giả tu Mật pháp chóng thành công vậy.

Đại Bồ-tát: Thủ trì tịnh độ Abhirati này là ngài Vajrapani (Đại Bồ-tát Kim Cang Thủ).

Công dụng của tiềm lực, từ bi và trí tuệ của đại Bồ-tát Kim Cang Thủ này, là chuyển di tâm thức của chúng sanh có đủ duyên, về Tịnh Độ Abhirati nói trên.

Năng lượng: của A Súc Như Lai, thuộc về Tưởng uẩn.

Khi đã hoàn thành tiêu chuẩn về bốn Cam Kết của nhà A Súc Như Lai này, sự phán đoán, ứng xử của chúng ta trong vòng đối đãi nhị nguyên, sẽ phản ảnh lên được năng lượng của Tam Bảo.

Tu hành đến mức độ siêu việt, tức là biết phối hợp Đại Lạc và tánh Không một cách toàn diện, thì cái Tưởng thuộc ngũ uẩn của chúng ta được chuyển thành một trạng thái hiểu biết siêu Việt, đó là: Trí tuệ Đại Viên Cảnh. Thần thông diệu dụng lúc này sẽ được hiện lên một cách tự nhiên.

Đại Viên Cảnh Trí-Mirror-like wisdom–Reflection wisdom: Là một loại tự lực nhận thức tất cả vạn hữu đồng một lúc, trong sáng như tấm gương được phản chiếu tất cả mọi hiện tượng. Bản chất của tâm là không tự tánh, nên sự phản chiếu của tâm-mọi hiện tượng cũng không tự tánh. Khi nào tâm ta đạt được trạng thái này, ta sẽ hiểu tường tận câu: “Liễu triệt Tam thừa thông Nhị đế …(Nhị đế dung thông)”

A Súc Như Lai gồm có bốn Cam Kết:

Ta có thể thành tâm hành trì bốn cam kết này như vầy: Từ nay cho đến ngày giác ngộ, xin luôn nguyện:

  1. Giữ chày Kim Cang, tưởng nhớ đến Bồ-tát hạnh.
  2. Giữ Tiểu Linh, tưởng nhớ đến tánh Không-Không tự tánh của vạn hữu.
  3. Khơi động và thiết lập chính mình là một Bổn Tôn. (Một pháp môn vô cùng hữu hiệu cho thời đại được mệnh danh là “mạc pháp”)
  4. Tin cậy và tận tuỵ với Tôn Sư mình (Công đức này sẽ làm duyên tốt cho ta đời đời trực diện minh sư.)
  1. Giữ chày Kim Cang:

Nhằm tưởng nhớ đến sự phát triển trạng thái đại lạc do hành thiền đúng phương pháp mà ra.

Ở đây nhấn mạnh đến Thiền định chỉ, thực tập thiền định chỉ tinh chuyên với sự hướng dẫn của dòng truyền thừa mình cho đến mức độ Ý tâm được thẩm thấu và hòa nhập vào Gốc tâm vi tế mà không bị rối loạn hay quên lãng. Từ đó, ta có thể quán chiếu tánh không một cách rốt ráo viên mãn, ta cũng có thể thiết lập Tịnh Độ của chư Phật trong dòng tâm liên tục và thực thi công hạnh Bồ-tát cùng lúc, ngay trong lục đạo luân hồi này.

Đối với truyền thừa Kinh, khi gìn giữ pháp khí: Mõ, cũng tưởng đến sự hỷ lạc. (Do thực thi Bồ-tát hạnh mà ra)

Nếu ta tỉnh thức về sự khổ đau của sanh linh mà phát tâm Bồ-đề, mỗi khi nhìn đến pháp khí mõ, ta nghĩ ngay đến việc trì kinh, niệm chú, vì sự trói buộc sanh tử luân hồi của chính ta và cho cả chúng hữu tình. Như thế, ta thấy rằng mõ làm biểu tượng cho mực thước trong công hạnh thực thi Bồ-tát, mà trong đó sự tỉnh thức, tức là trí tuệ làm đầu, cũng như đạt được niềm vui lớn của tự thân do công hạnh Bồ-tát vậy.

2. Giữ Tiểu linh để nhớ đến bản chất “Không Tự Tánh” của mọi hiện hữu:

Người đã học Kinh Bát Nhã một cách tận tuỵ và thâm hiểu về năm lãnh vực của phép quán tánh Không, khi nhìn đến Tiểu linh, họ liền ý thức mình đang được hành trì về thiền quán ở lãnh vực nào... Họ liền nhớ đến sự cần thiết thực tập, họ nhớ ngay đến phương pháp “hành trì ngoài giờ hành trì”, tức là biết áp dụng phương pháp quán tánh không đặc thù trong bất kỳ hoàn cảnh nào trong đời sống hàng ngày của họ.

Đối với truyền thừa Kinh cũng tương tự, gìn giữ chuông để tưởng nhớ đến tánh Không. Nếu ta trực nhận được bản chất không tự tánh của vạn hữu,thì không gì có thể so sánh, vì nó chính là cốt lõi cho sự đạt ngộ về Pháp và những sự chứng đắc khác. Tôn sư dạy:“Với trí tuệ tánh không, tất cả đều bình đẳng…” Trạng thái bình đẳng chứng đắc rất đặc biệt, trạng thái này sẽ đưa ta tiến nhanh lên tòa Như Lai của tự tâm, trong lúc khẩu và thân thực thi vô lượng hành tác lợi lạc vô lượng sanh linh vậy.

3. Khơi động và thiết lập chính mình là một Bổn Tôn:

Phương pháp này dành cho hành giả đã được thọ nhận lễ điểm đạo của Mật Pháp. Tưởng cũng nên nêu ra sự lợi ích đặc biệt về mục đích của việc thiết lập Bổn Tôn-tự nhận mình là Bổn Tôn. Có ba tác dụng chính:

  • Dựa trên cơ bản của Kinh về: “Nhất thiết duy tâm tạo”- tất cả đều do tâm. Thế nên nếu không nghĩ mình là Phật trong lúc niệm Phật, thì thật sự mà nói, rất lâu thành Phật. Cho nên ta chỉ làm được “dân đất Phật” thôi.
  • Dựa trên căn bản nêu trên: Ta có thay thế chuyển hóa cái Ta chấp thủ có thật trong vòng sanh tử luân hồi từ nhiều kiếp, thành cái ta của Bổn Tôn mình khi được làm lễ điểm đạo. Ví dụ như, khi ta được điểm đạo Đức Phật A Di Đà chẳng hạn, cái Ta của sanh tử luân hồi lúc bấy giờ trở thành cái ta của thánh vị, tức tối thiểu tương đương như Đức Phật A Di Đà. Danh từ tiếng Anh gọi là Diety-Thánh Vị. Ta bắt đầu luôn thực tập phép chuyển hóa này đến lúc ta thực sự thấy mình là Đức Phật A Di Đà, mặc dù ngoại nhân họ chỉ nhận diện mình là một người phàm tục! Lúc này là lúc thành đạt mỹ mãn về phần một: Phát Khởi của hai phần chính (Mật Pháp Tối Thượng có hai phần thực tập chính: Phát Khởi và Viên Mãn. Trong một dịp tốt nào ấy, chúng ta sẽ tư duy về Nhị phần của Mật Pháp Tối Thượng – Highest Tantra Yoga.)
  • Cũng dựa trên câu Kinh “Nhất thiết duy tâm tạo”, ta ứng tưởng những chúng hữu tình và vô tình chung quanh ta lúc bấy giờ là những sanh linh đang ở tịnh độ và hoàn cảnh chung quanh thực sự là tịnh độ. Đã là tịnh độ mà ta tự thiết lập qua sự ứng tưởng với lòng tin kiên định của tự tâm, thì cố nhiên: Thân ta, những hiện tượng quanh ta lúc bấy giờ là Tịnh Độ!

Trên phương diện “tịnh hóa”-sám hối, giải trừ nghiệp chướng-mà tư duy, ta nhận thức được rằng đây là phương pháp vô cùng hữu hiệu không những trong việc thiết lập Tịnh Độ của tự tâm, mà còn là phương pháp tịnh hóa sự cấu nhiễm của Ý tâm; đã và đang bị chìm đắm trong sự khống chế khốc liệt của vòng sanh tử luân hồi!

Đối với truyền thừa của Kinh, thì ta có thể thực tập như vầy:

Mỗi lần trực nhận được sự quên lãng về Phật tâm, ta nên nhớ lại ngay trong tâm-lồng ngực mình-đang có Phật hiện diện-liền sau đó, ta tưởng nhớ đến bản chất Không tự tánh của mỗi hiện hữu mà niệm Phật hay thần chú, làm được như vậy ta vẫn sẽ đến được đích: Trực nhận được tánh Không, thấy được Phật tâm thanh tịnh vậy.

Ví dụ về pháp môn niệm Phật:

- Bổn Tôn mình, chính hình dáng của A Di Đà, đang hiện diện trong tâm-tại lồng ngực mình.

- Hoàn cảnh quanh mình, phải được ứng tưởng là Cực Lạc tịnh độ (Sukavati).

 - Sau cùng, những thứ mà thân và khẩu tiêu dùng hàng ngày, là cam lồ tịnh thuỷ thuộc về thế giới của Cực Lạc tịnh độ.

Ba sự nhận diện này, là ba sự nhận diện vượt tầm-vượt lên thế giới nhị nguyên Ta Bà, vì bản chất của mọi hiện tượng là không có tự tánh, dựa trên bản chất không tự tánh ấy, ta thiết lập bản chất tịnh độ không tự tánh ngay trong lòng sanh diệt hư nguỵ của vòng luân hồi. Đạt được sự trực nghiệm của ba sự nhận diện này rồi thì: “Duy tâm tịnh độ”, sẽ trở thành rất ý nghĩa vậy.

Trong mọi hành tác hàng ngày, ta đều hồi hướng đến bổn tôn hiện diện trong ngực mình. Bổn Tôn của tự thân mình chính là hải đảo giữa sanh tử trùng trùng, mà ta cần nên về nương tựa-Bổn Tôn cũng chính là tổng thể của TAM BẢO tự tâm vậy!

4. Tin cậy và tận tuỵ với Tôn Sư mình: (Tức là vị Thầy của mình, người đã dìu dắt mình trên con đường đạo)

Một nghề làm ăn thông thường như là thợ mộc, thợ nề v.v… ta còn rất cần thầy tốt và lòng tận tuỵ của mình đối với thầy, huống chi là việc học đạo.Ta luôn tâm niệm rằng:

“Lòng tôn kính Tôn sư

Nền móng mọi thiện nghiệp…”

Tôn Sư mình là đối tượng nhắc nhở cho mình luôn nhớ đến hạnh tinh tấn hành trì về ba loại Giới: Ba-la-đề-mộc-xoa, Bồ-tát-Tam Tụ Tịnh giới và và Mật giới. (Nếu là người đang thực hành Mật Pháp).

Tin cậy và tận tuỵ với tôn sư mình, chính là sự tin cậy nơi chư Phật, chư Bồ-tát. Sự thực tập tận tuỵ và tin cậy như thế, ta sẽ được giáp mặt với một quả chín muồi may mắn trên đường đạo của chúng ta, ấy là:

Ngay trong đời hiện tại, ta sẽ dễ dàng nhận diện và phân biệt được chân sư mà quy ngưỡng để tiến tu.

Ngược lại, ta cũng có thể dễ dàng nhận diện được những vị tôn sư đang dựa đức của Như Lai, làm tròn trịa hình hài. Nếu ta rủi phải bị trường hợp như thế, điều tốt nhất là ta chấp nhận sự thoái lui một cách tôn kính đối với Tam Bảo Tự Tâm, tìm những minh sư và bạn lành khác.

Một Tôn Sư chính thống, không bao giờ truy cầu sự cúng dường hay tôn vinh nào của đệ tử cả, nếu có đi chăng nữa, thì mọi hành tác của Tôn Sư không ngoài một mục đích chính, là làm cho tất cả mọi người tạo được phước duyên đến với Tam bảo; được hiển hiện hóa qua sự điều hành tinh nghiêm của những cận sự viên, hay những đồ đệ mình mà thôi.

Yếu điểm của một Tôn Sư chân chính, là luôn luôn mong muốn được thấy đệ tử mình đạt niềm hạnh phúc lớn do hoa trái của sự tinh chuyên thực tập giáo Pháp Phật đà!

Công đức vô lượng được hiển hiện hóa do lòng tôn kính và tận tuỵ với Tôn Sư sẽ đưa đến kết quả: Chắc chắn đời đời, ta sẽ luôn gặp được minh sư và bạn lành để vững tiến trên đường đạo, nếu như ta chưa được giác ngộ trong một kiếp người ngắn ngủi, hoặc cảm thấy chưa đủ tiêu chuẩn về tịnh độ. (Còn tiếp)

Du Già Sư Thích Tịnh Thông

(Theo: Tuyển tập Tri Thức Phật giáo, số 14, tr.12-20)

BÌNH LUẬN








CÁC TIN LIÊN QUAN

1 2 3 4 5
TOP
sanpham_detail array(2) { ["com"]=> string(8) "bai-viet" ["id"]=> string(4) "1137" }