Hai bài thơ Quốc âm ở chùa Đậu (Hà Sơn Bình) - Phật Giáo Việt Nam

Hai bài thơ Quốc âm ở chùa Đậu (Hà Sơn Bình) - Phật Giáo Việt Nam

KÍNH MỪNG LỄ VU LAN - BÁO HIẾU

 
Tìm kiếm
Thư viện hình ảnh
Âm lịch
Liên kết Website
Trắc nghiệm
Facebook Fanpage

Hai bài thơ Quốc âm ở chùa Đậu (Hà Sơn Bình)

TỰ VIỆN TRONG NƯỚC
Hai bài thơ Quốc âm ở chùa Đậu (Hà Sơn Bình)
04/08/2009 19:59 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

 

 

cdaub.jpg



Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo tự, thờ thần Pháp Vũ nên còn gọi là chùa Pháp Vũ (Pháp Vũ tự) thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình. Chùa Đậu nằm trong hệ thống này ra đời từ khá sớm(1). Về lịch sử kiến tạo chùa Đậu được xây dựng từ thời lý, tu bổ và tái tạo vào các thời Trần, Mạc, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Thời Lê trung hưng cùa Đậu khá khang trang, được vua Lê Thần Tông (1649 – 1668) bạn sắc phong cho chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” (Danh lam số 1 của nước Nam). Trãi bao phen thiên tai, địch hoạ, chùa Đậu ngày nay vẫn còn lưu giữ được khá nhiều di vật quý như rồng đá thời Trần, gạch vào bệ đá hoa sen thời Mạc, những bức phù điều gỗ thời Lê trung hưng, hai pho tượng là thi hài hai nhà sư được cướp giữ vào đầu thế kỷ 17, cùng bia đá, chuông đồng, sách đồng, sắc phong… đặc biệt hơn, ở đây còn có hai bài thơ Quốc âm khắc trên hai biền gỗ thời Lê Trịnh. Một bài đã được chép trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập và một trong Hồng Đức Quốc âm thi tập(2). Bài viết này xin giới thiệu toàn bộ văn bản khắc trên hai biền gỗ đó và một số kiến giải của chúng tôi.

1. Biền gỗ và văn bản trên biền gỗ:

Cả hai biền gỗ đều là hình chữ nhật, được vát chéo hai góc phía trên. Một biền có kích thước là 0,95 x 0,45m (chúng tôi gọi là biền gỗ thứ nhất). Một biển có kích thước lớn hơn: 1,20 x 0,65m (gọi là biền gỗ thứ hai). Đường diềm mặt sau biền gỗ thứ hai trang trí đề tài “Lưỡng lòng triều nguyệt”. Văn bản được khắc toàn bộ ở mặt trước biền gỗ. Bài thờ trên biền gỗ thứ nhất có chữ “ngự đề” và tên bài thơ cùng dòng niên đại. Bài thơ trên biền gỗ thứ hai có lời dẫn và dòng niên đại.

- Văn bản khắc trên gỗ thứ nhất bằng chữ Nôm, tạm phiên âm như:

Ngự đề
Pháp Vũ tự thi(3)
Vô biên công đức dậy lừng danh, 
Phơi ngỏ hồ thiên cảnh tứ thanh 
Ngọc thỏ một vầng in địa trục, 
Bàn long đòi thế mở đồng tranh. 
Cầm thông gió quyến khi tuyên pháp, 
Hoa báu mưa rây thuở diễn kinh 
Tiết gặp thăng bình nhân thưởng ngoạn 
Tuệ quang hay được khí chung linh(4)
(Vĩnh Thịnh thập tứ niêm thập nguyệt sơ cửu nhật)(5)

- Văn bản khắc trên biền gỗ thứ hai, gồm lời dẫn bằng chữ Hán và bài thơ viết bằng chữ Nôm. Lời dẫn bằng chữ Hán tạm dịch như sau:

“Giữa nơi bằng phẳng của vũ trụ, cảnh chẳng có mây hồng ráng tía, thú không có vách đá muôn hình mà tạo thành một thế giới” lưu li. Chùa Pháp Vũ thuộc đất Gia Phúc thật kỳ vĩ. Trên mặt đất nổi lên đài sen, lầu son sáng rạng. Cây cỏ xum xuê rủ kín một trời, cành dương tốt tươi nhuần che muôn vật. Gió lành rười rượu hoà cùng lá bối, trăng sáng lung linh ánh với đàm hoa. Bốn phương rộng lớn đuốc tuệ dõi xa. Trăm sông về một mối, thuyền từ cập bến thiêng. Tinh linh mồn một như hiện ngay trước mắt. Công đức chất chồng không bề lượng tính. Ngẫu hứng trước danh thắng mà ngầm ngợi rằng:

Bài thơ bằng chữ Nôm tạm phiên âm như sau: 
Thanh quang mẽ mẽ chốn giao quang, 
Gấp mấy trần gian mấy thế thường. 
Cả mở tượng đồ, đồ tuệ chiếu, 
Vẹn gồm khoa lục, lục kim cương. 
Duềnh thâu bích hải quyềnh quanh quất, 
Sắc ánh từ vân sắc rỡ ràng. 
Đức thịnh ngày càng ngày hiển ứng. 
Rành thay rành rãnh dấu đăng hương(6).
(Chính Hoà Mậu Dần mạnh xuân cốc đán)(7)

2. Niên đại và tác giả:

Trên hai biền gỗ đó đã có niên đại: năm Vĩnh Thịnh 14 (1718) và năm Chính Hoà Mậu Dần (1698). Niên đại này hoàn toàn phù hợp với phong cách trang trí trên biền gỗ. Hình hoa lá trên đường, diềm biền gỗ thứ nhất tương tự hình hoa lá trang trí trên diềm bìa cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 ở một số địa chùa Đậu và các địa chùa phương khác(8). Hình rồng trên biền gỗ thứ hai được tả thực đậm nét dân gian. Trên đầu, trên lưng rồng điềm thêm những hoa văn \\ lưỡi mác khoẻ khoắn – loại hoa văn tiêu biểu ở thế kỷ 17(9). Hơn nữa cả hai bài thơ đều là thơ vãn cảnh, đề tặng nên thường được lập tức khắc lại để lưu truyền về sau. Do đó niên đại ghi trên biển gỗ là niên đại bài thơ và trong trường hợp này cũng là niên đại của biền gỗ(10).

Vậy thì hai bài thơ được làm năm 1718 và năm 1698 là của ai?

Bài thơ thứ nhất có chữ “Ngự đề” thì chỉ có của vua hoặc chúa mà thôi. Niên hiệu Vĩnh Thịnh là của vua Lê Dụ Tông 9(1705 – 1719). Cùng thời gian này, Trịnh Cương đang ở ngôi chúa (1709 – 1729). Trong thực tế, vua Lê Dụ Tông cũng như các vị vua Lê khác thời Lê Trịnh đều không thích thơ Quốc âm, ngược lại Trịnh Cương và các chúa Trịnh khác rất thích thơ Quốc âm, từng vãn cảnh đề thơ nhiều. Hơn nữa, năm 1718 Lê Dụ Tông đang trở tang cha(11). Theo phong tục cổ truyền thì một người có đại tang không thể du ngoạn đề thơ được, đặc biệt đối với một ông vua. Do vậy bài thơ làm năm Vĩnh Thịnh 14 là của An Đô Vương Trịnh Cương.

Bài thơ thứ hai này tuy không có chữ “Ngự đệ” nhưng chũng chỉ có thể của vua hoặc của chúa, bởi biền gỗ được chạm khắc khá công phu, sử dụng hình rồng làm đề án trang trí chính vì sự thể hiện hết sức tôn nghiêm. Biền gỗ và hình thức văn bản này tương tự biền gỗ và hình thức văn bản trên biền gỗ ở Văn Miếu (Hà Nội) khắc bài thơ Quốc âm của Trịnh Căn năm ất Hợi (1695). Mặt khác, tại chùa Đậu, Trịnh Căn đã từng đóng góp tu bổ chùa với quy mô lớn vào năm Dương Hoà 5 (1639) và từng qua lại lễ Phật(12). Vì thế bài thơ làm năm 1698 ở Chùa Đậu có phần chắc là của Định Vương Trịnh Căn(13).

3. Một vài nhận xét:

Hai văn bản thơ Quốc âm trên có thể coi là những văn bản gốc ở giai đoạn cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. So sánh chúng với văn bản trong hai sưu tập Hồng Đức Quân thi âm và Khâm định thăng bình bách vinh, thấy nổi lên mấy trường hợp như sau:

- Khác chữ, khác âm: như chữ thứ 2 cây 5, bài thơ làm năm 1718 trên biền gỗ ghi “gió quyến”, trong sưu tập chép “phong quyến”. Trong câu thơ này rõ ràng không thể là “Phong quyến”, được vì thất niêm, mà phải là “gió quyến”. Có lẽ khi chép chữ “gió” người sưu tập đã bỏ sót chữ “dũ” ở dưới nên thành “phong”.

- Cùng âm, cùng nghĩa nhưng khác về tự dạng: Như chữ “tranh” câu 4 bài thơ năm 1718, trên biền gỗ ghi “Cân + trinh” trong sưu tập chép “cân + tranh”.

- Khác nhau về cấu tạo chữ Nôm: Những chữ trên biền gỗ mới chỉ có bộ phận chỉ âm, chưa có phần chỉ nghĩa thì trong sưu tập đã ghi đầy đủ cả phần chỉ âm và nghĩa như chữ “gặp” trong bài thơ năm 1718. Trên biền gỗ “gặp” được viết “cập” trong sưu tập chép “cập + bộ xước”. Và những chữ phải đọc chệch âm thì trong sưu tập ghi thêm dấu nháy như “mẽ”, “vẹn”, “gấp” ở bài thơ năm 1698. “Mẽ” trên biền gỗ ghi “mỹ” trong sưu tập chép “mỹ + cá nháy”. “Vẹn” trên biền gỗ viết “viện” trong sưu tập chép “viện +cá nháy”. “Gấp” trên biền gỗ viết “cấp” trong sưu tập chép “cấp + cá nháy”.

…………

Từ sự khác nhau trên có thể nghĩ răng hai bài thơ trong hai sưu tập đã được chép lại từ hai bài thơ trên hai biền gỗ này. Và như vậy, thời gian sưu tập thơ Quốc âm Hồng Đức và thơ Quốc âm Lê Trịnh mới được tiến hành, sớm nhất cũng không thể vượt quá thời điểm xuất hiện hai bài thơ trên ở chùa Đậu, tức là từ thế kỷ 18 trở về sau. Đồng thời người sưu tập thơ Quốc âm có lẽ chủ yếu để ghi lại chứ không sao nguyên bản cũ. Khi xác định tác giả, người sưu tập gặp một trở ngại là thơ không ghi rõ tên người soạn. Do vậy họ cũng chủ yếu dựa vào lời tuyên khẩu trong dân gian hoặc theo cảm nhận chủ quan của mình mà đoàn định. Chẳng thế trong hài bài ở Chùa Đậu một bài có chữ “ Ngự đề” và mang tên là “Pháp vũ tự thi” thì có người cho là bài thơ của Lê thánh Tông (1460 – 1497)(14) và được xếp vào tập Hồng Đức Quốc âm thi, còn một bài không rõ xuất xứ thì cho là bài thơ của Trịnh Tùng (1570 – 1623) và được xếp vào tập Khâm định thăng bình bách vịnh.

Vì vậy những bài thơ trong Hồng Đức Quốc âm thi tập và Khâm định thăng bình bách vịnh tập cũng như một số sưu tập thơ Quốc âm khác bị lẫn lộn về tác giả là điều có thể hiểu được.

Tóm lại: việc phát hiện hai văn bản thơ Quốc âm ở Chùa Đậu góp thêm những cứ liệu mới để tìm hiểu thơ Quốc âm Lê Trịnh và góp phần lý giải văn bản một số sưu tập thơ Quốc âm khác.

CHÚ THÍCH

(1) Chúng tôi muốn nói đến hệ thống Tứ pháp ở Luy Lâu, nay thuộc huyện Thuận Thành (Hà Bắc).

(2) Mang ký hiệu AB. 292 tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(3) Thơ chùa Pháp Vũ.

(4) Bài thơ này đã được giới thiệu. Xem Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên: Hồng Đức Quốc âm thi tập, xuất bản lần thứ 2, Nxb Văn hoá, H., 1982.

(5) Ngày 9 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh mười bốn (1718).

(6) Hai văn bản trên gỗ ở chùa Đậu đã có thác bản tại kho bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số 7880 và 7881.

(7) Ngày lành tháng giêng năm Chính Hoà Mậu Dần (1698).

(8) Như bia Tu tạo Pháp Vũ tự, dựng năm Dương Hoà 5 (1639); Pháp Vũ tự bi, dựng năm Thịnh Đức 3 (1655) tại chùa Đậu.

(9) Xem Phương Anh - Thanh Hương: Hà Bắc ngàn năm văn hiến, tập 2, Hà Bắc 1976, tr. 39.

(10) Có khi thơ có trước, mãi về sau mới được khắc lên gỗ, lên bia. Trong trường hợp đó niên đại bài thơ và niên đại biển gỗ hoàn toàn khác nhau, như bài thơ trên biển gỗ Văn Miếu (Hà Nội).

(11) Cha là Lê Hy Tông mất năm Vĩnh Thịnh 12 (1716).

(12) Xem bia Tu tạo Pháp Vũ tự tại chùa Đậu.

(13) Trịnh Căn làm chúa từ năm 1682 đến năm 1709.

(14) Có thể Lê Thánh Tông có thơ ở chùa Pháp Vũ, nhưng là chùa Pháp Vũ ở Thuận Thành (Hà Bắc) chữ không phải ở chùa Đậu

 

ĐINH KHẮC THUÂN (Tạp chí Hán Nôm, số 1, 1986)

BÌNH LUẬN








CÁC TIN LIÊN QUAN

Chùa Giác Minh
14/11/2008 09:33 (GMT+7)
Chi tiết
Chùa Pháp Vân
16/11/2008 12:32 (GMT+7)
Chi tiết
1 2 3 4 5
TOP
sanpham_detail array(2) { ["com"]=> string(8) "bai-viet" ["id"]=> string(3) "971" }