Đề cương: Luận Câu-xá (2) - Phật Giáo Việt Nam

Đề cương: Luận Câu-xá (2) - Phật Giáo Việt Nam

 
Tìm kiếm
Thư viện hình ảnh
Âm lịch
Liên kết Website
Trắc nghiệm
Facebook Fanpage

Đề cương: Luận Câu-xá (2)

TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

LUẬN CÂU-XÁ

Đề cương bài giảng

Bài 1: GIỚI THIỆU LUẬN CÂU-XÁ (8 tiết)

HVPG VN tại Hà Nội và

HVPG VN tại TP.HCM

Giảng viên: TT.TS. Thích Giác Hiệp

     

1. LỊCH SỬ

1.1. Khái quát

1.2. Thuật ngữ

1.3. Tác giả

2. VĂN CHƯƠNG A-TỲ-ĐÀM

2.1. Luận thư Thượng-tọa bộ

2.2. Luận thư Nhất-thiết-hữu bộ

2.3. Luận Câu-xá

3. TRIẾT HỌC

                3.1. Phân chia pháp

                3.2. Thuyết Nhân quả

                3.3. Thuyết Tam thế thật hữu

                3.4. Thuyết Cực vi

                3.5. Tư tưởng Giải thoát

                3.6. Phá chấp ngã

4. ĐẠI Ý CÁC PHẨM

5. KẾT LUẬN

 

 

  1. LỊCH SỬ:

1.1. Khái quát:

Bộ luận Câu-xá có một vai trò quan trọng trong sự phát triển văn chương Phật giáo, văn chương Nhất-thiết-hữu bộ, ở Ấn độ và Trung quốc, Nhật Bản…. Tông Câu-xá dựa vào bộ luận Câu-xá để làm nền tảng lập tông. Luận Câu-xá là một trong những bộ luận thuộc hệ tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ. Đây là một trước tác của ngài Thế Thân. Tác phẩm này được ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào giai đoạn năm 563-567 TL, và ngài Huyền Trang dịch lại vào khoảng giai đoạn năm 651-654TL.[1] Tác phẩm đề cập nhiều lãnh vực, như: Bản thể học, Tâm lý học, Đạo đức học, Vũ trụ quan…

Ở Trung quốc, sau khi dịch phẩm của ngài Chân Đế được hoàn thành, tông Câu-xá chính thức thành lập. Do vậy ngài Chân Đế được xem là Sơ tổ của tông này ở Trung quốc. Câu-xá tông được gọi là trường phái thật hữu, vì nó chủ trương các pháp thật hữu trong mọi thời, quá khứ, hiện tại và vị lai. [2]     

1.2. Giải thích thuật ngữ

Câu-xá là phiên âm từ tiếng Sanskrit: kośa, tên tắt bộ luận Abhidharma-kośa của ngài Thế Thân (Vasubandhu 316–396 AD). Tên đầy đủ là Abhidharma-kośa, có nghĩa: chỗ chứa pháp tối thắng, thông minh luận. Abhidharma được dịch: Đại pháp, Thắng pháp, Vô tỷ pháp, Thích pháp, Đối pháp. Pháp có khả năng vi diệu diễn bày 4 chân lý và đoạn trừ các phiền não. Abhidharma có nhiều cách giải thích, Đại Tỳ-bà-sa giải thích có 24 nghĩa, luận này giải thích có 2: Đối pháp và Thắng pháp.

Luận Câu-xá viết theo quan điểm của trường phái Kinh lượng bộ. Thế nhưng Câu-xá luận không hoàn toàn chỉ trích Nhất-thiết-hữu bộ mà còn hệ thống hóa tư tưởng bộ phái này. Khi hệ thống tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ thỉnh thoảng ngài Thế Thân đưa quan điểm của mình vào, phê phán và không đồng tình một số điểm triết học của Nhất-thiết-hữu bộ. Luận Câu-xá là một tác phẩm chẳng những bao hàm giáo lý quan trọng của luận tạng mà còn chứa đựng nhiều nội dung khác trong Thánh điển Phật giáo.[3]

1.3. Tác giả

Ngài Thế Thân (世親Vasubandhu 316-396)[4] sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Có giả thuyết  cho rằng có 2 ngài Thế Thân, một theo tư tưởng Hữu bộ, một theo Đại thừa. Thế nhưng thuyết này không được nhiều người ủng hộ. Ngài xuất gia theo trường phái Nhất-thiết-hữu bộ, sau theo quan điểm Kinh Lượng bộ. Ngài được anh của ngài là ngài Vô Trước (無著 asaṅga) chuyển hóa sang Đại thừa. [5]

2. Văn chương A-tỳ-đàm

Theo tuyền thống Pāli, A-tỳ-đàm do chính Đức Phật thuyết ở cõi Tam thập tam thiên cho chư thiên và mẹ của Ngài trong 3 tháng mùa An cư.[6] Phần lớn các trường phái A-tỳ-đàm có thể bắt đầu phát triển sau khi cuộc kiết tập Thánh điển lần thứ 3 do vua A-dục ủng hộ (khoảng năm 240 TTL.).[7] A-tỳ-đàm là loại văn chương cổ điển đề cập đến nhiều chủ đề, như: triết học, tâm lý học... Luận là một hình thức văn chương chú thích, giải thích. Nó có một quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên, chỉ có một số tác phẩm của Thượng-tọa bộ, Nhất-thiết-hữu bộ và một số trường phái khác còn tồn tại đến ngày nay. Quá trình phát triển của Luận tạng trải qua một thời gian dài, được học giả Nhật Bản, Kimura Taiken - 木村泰賢(1881-1930), chia ra làm 4 thời kỳ. Theo Kogen Mizuno Luận thư phát triển trải qua 3 giai đoạn:[8]

  1. Giai đoạn từ thời Đức Phật đến thời kỳ Nguyên thủy Phật giáo.
  2. Giai đoạn luận thư phát triển độc lập, Luận tách khỏi Kinh và Luật, hình thành các luận thư căn bản, bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch đến đầu kỷ nguyên Tây lịch.
  3. Giai đoạn ra đời các bản chú sớ về luận, bắt đầu từ đầu kỷ nguyên Tây lịch cho đến thế kỷ thứ 5. Cho đến ngày nay, sự hình thành các bản chú thích về luận dĩ nhiên vẫn còn.

2.1. Luận thư Thượng-tọa bộ: có 7 tác phẩm:

Thượng-tọa bộ là một trong những trường phái còn bảo lưu Thánh điển của bộ phái tương đối đầy đủ. Các tác phẩm của Thượng-tọa bộ được biên soạn trong khoảng thời gian từ năm 250 TTL đến năm 50 TTL, gồm: 1) Pháp Tập luận (dhammasaṇgaṇi法集論), 2) Phân Biệt luận (vibhaṇga分別論), 3) Giới luận (dhātudathā界論), 4) Nhân Thí Thiết luận (puggalapaññati人施設論), 5) Song luận (yamaka雙論), 6) Phát Thú luận (paṭṭhāna發趣論), 7) Luận sự (kathāvatthu論事).

2.2. Luận thư Nhất-thiết-hữu bộ: có 7 tác phẩm

Nhất-thiết-hữu bộ có đóng góp to lớn trong sự phát triển A-tỳ-đàm, ngay cả Đại thừa cũng ảnh hưởng tư tưởng bộ phái này.[9] Luận thư của Nhất-thiết-hữu bộ gồm: 1) A-tỳ-đàm bát-kiền-độ luận (Jñānaprasthāna-śastra 阿毘曇八犍度論), 2) A-tỳ-đạt-ma tạp dị môn túc luận (saṇgītiparyāya阿毘達磨集異門足論 ), 3) A-tỳ-đạt-ma pháp uẩn túc luận (dharmaskandha-pāda-śastra 阿毘達磨 法蘊足論), 4) A-tỳ-đạt-ma thí thiết luận (prajñaptipāda-śastra施設論), 5) A-tỳ-đạt-ma thức thân túc luận (jñānakāya-pāda-śastra 阿毘達磨識身足論), 6) A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận (dhātukāyapāda-śastra阿毘達磨界足論), 7) A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận (prakaraṇa-pāda-śastra阿毘達磨品類足論). Các bộ luận này được viết bằng tiếng Sanskrit. Phát Trí luận gọi là Thân luận, chứa đựng nghĩa lý rộng. 6 bộ luận kia gọi là Túc luận, chỗ dựa cho luận Phát Trí.

2.3. Luận Câu-xá

Sau khi tham học giáo nghĩa  của Nhất-thiết-hữu bộ ở Kaśmir,[10] ngài Thế Thân trở về Gandhāra và giảng Đại-tì-bà-sa, ban đầu viết 600 bài tụng căn bản;[11] sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng Nhất-thiết-hữu bộ ở Kaśmir, Ngài viết thêm 8.000 kệ giải thích. Mục đích nhằm:  1) Loại bỏ tư tưởng bè phái, 2) Loại bỏ tư tưởng cố chấp, 3) Loại bỏ tư tưởng khen mình chê người.

3, Triết học

3.1. Phân chia pháp

Một số trường phái Phật giáo giải thích về vũ trụ, con người. Nhất-thiết-hữu bộ là một trong những trường phái này, đưa ra quan điểm về vũ trụ, nhân sinh. Theo Nhất-thiết-hữu bộ tất cả các pháp trong vũ trụ chia ra làm 2 loại chính: Hữu vi (saṃskṛta) và Vô vi (asaṃskṛta). Pháp Hữu vi có 4 loại bao gồm 72 pháp. Vô vi có 3 pháp. Tổng cộng Pháp Hữu vi và Vô vi là 75 pháp.

3.2. Thuyết Nhân quả

Các yếu tố chính, phụ hỗ tương hình thành các hiện tượng, kết quả. Kết quả được hình thành là do nhân chính kết hợp với các duyên, các pháp không phải tự nhiên mà có.

3.2.1. SÁU NHÂN

Đây là những yếu tố chính giúp hình thành kết quả. Theo Nhất-thiết-hữu bộ có 6 nhân:

  1. Năng tác nhân
  2. Câu hữu nhân
  3. Đồng loại nhân
  4. Tương ưng nhân
  5. Biến hành nhân
  6. Dị thục nhân

3.2.2. BỐN DUYÊN:

Vạn hữu hiện khởi có nhiều mối quan hệ. Duyên là yếu tố phụ giúp hình thành quả. Có 4 duyên:

  1. Nhân duyên
  2. Thứ đệ duyên
  3. Tăng thượng duyên
  4. Sở duyên duyên

3.2.3. NĂM QUẢ

Kết quả hình thành qua quá trình hỗ tương giữa nhân và duyên. Quả có 2 loại hữu vi và vô vi, tất cả có 5:

  1. Tăng thượng quả
  2. Sĩ dụng quả
  3. Đẳng lưu quả
  4. Dị thục quả
  5. Ly hệ quả

3.3. Thuyết Tam thế thật hữu

Nhất-thiết-hữu bộ chủ trương tất cả các pháp hữu vi và vô vi đều tồn tại vĩnh viễn trong 3 đời, quá khứ, hiện tại và vị lai không có gián đoạn. Lý thuyết này là một trong những quan điểm triết học gây tranh luận nhất của trường phái Nhất-thiết-hữu bộ.

3.4. Thuyết Cực vi

       Cực vi là đơn vị cực nhỏ, không thể cắt xén, phá hoại, xỏ xuyên, lấy bỏ…phân chia..cũng không thể dùng mắt thấy, dùng tai nghe[12]… Cực vi tiêu biểu cho một quan điểm số lượng của sự hiện hữu. Một pháp được hình thành do vô số phần vi tế này.

3.5. Tư tưởng Giải thoát

Tu tập đạt được sự giải thoát là mục đích tối hậu của hành giả. Niết-bàn là trạng thái giải thoát, thoát khỏi các hệ lụy. Niết bàn là tự tánh thanh tịnh, bản thể chân thật, một trạng thái tâm lý an lạc, trạng thái thoát khỏi sự trói buộc của các lậu hoặc. Niết-bàn có thể được chia ra làm 2 loại: 1) Hữu dư y Niết-bàn và 2) Vô dư y Niết-bàn. 1) Hữu dư y Niết-bàn: loại Niết-bàn mà hành giả có thể chứng đạt ngay trong hiện tại khi đã đoạn trừ các lậu hoặc, phiền não được đoạn trừ và nhục thể vẫn còn, 2) Vô dư y Niết-bàn: lậu hoặc, phiền não đã được đoạn trừ và sắc thân của hành giả được xả bỏ.

3.6. Phá chấp ngã

Phật giáo chủ trương phá trừ những chấp trước có một thật ngã thường hằng mà các trường phái triết học, tôn giáo trước thời Phật đã chủ trương. Ngài Thế Thân phá trừ chủ trương của Độc-tử bộ, một bộ phái Phật giáo, chủ trương phi tức phi ly uẩn ngã, ngã không khác uẩn cũng không phải lìa uẩn mà có. Và ngài Thế Thân cũng bàn về quan điểm của Số luận và Thắng luận.

4. Đại ý các phẩm: 9 phẩm

5. Kết luận:

Luận thư của Phật giáo nói chung và Câu-xá nói riêng góp phần lớn trong việc tồi tà, hiển chánh. Luận Câu-xá được viết dựa trên quan điểm của Kinh-lượng bộ, không hoàn toàn bác bỏ chủ trương của Nhất-thiết-hữu bộ. Ngài Thế Thân dựa vào tư tưởng Kinh-lượng bộ đôi lúc có chỉ trích hệ thống tư tưởng Nhất-thiết-hữu bộ, không đồng tình với một số điểm triết học của trường phái này. Luận Câu-xá có tính hệ thống hóa, có tính thẩm quyền và hoàn thiện, hệ thống hóa tư tưởng Nhất-thiết-hữu Bộ.[13] Mục đích của luận Câu-xá nhằm giúp hành giả đoạn trừ phiền não cố chấp, tư tưởng bộ phái, khen mình chê người, luận giúp phát sinh trí tuệ và hoằng truyền, bảo tồn chính pháp.

Thư mục tham khảo:

  1. Anacker, Stefan, Seven Works of Vasubandhu: The Buddhist Psychological Doctor, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2005.
  2. Bapat, Lata, Abhidharmakośa A Study with a new Perspective, Varanasi: Bharatiya Vidya Prakashan, 1994.
  3. Chaudhury, Sukomal, Analytical Study of the Abhidharmakosa, Calcutta: Firma KLM Private Limited, 1983.
  4. Dhammajoti, KL, Sarvāstivāda Abhidharma, Hong Kong: The University of Hong Kong, 2007.
  5. 演培法師,俱舍論頌講記,臺北市:天華出版事業, 中華民國六十七年.
  6. Dương Hồng, (dịch) Tứ Thư, Hà Nội: NXB Quân Đội Nhân Dân, 2003.
  7. 大正新脩大藏經, Vol. 29, no. 1558.
  8. Encyclopaedia of Religion and Ethics, no. XII, 1921, p. 596-597, by James Hastings.
  9. Garg, Gaṅgā Rām, Encyclopaedia of The Hindu World, Vol.III, New Delhi: Concept Publishing Company, 1992.
  10. Groner, Paul, (tran.) A History of Indian Buddhism: From Skyamuni to Early Mahayana, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998.
  11. Leo M.Pruden, (tr.) Abhidharmakośabhāṣyam, (4 Vols.) California: Asian Humanities Press, 1988-1990.
  12. Malalasekera, G.P. (ed) Buddhist Encyclopaedia, (Vol. VII), Ceylon: The Government Press Ceylon, 1961.
  13. Mitra, Rajendralala, The Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, New Delhi: Cosmo Publications, 1981.
  14. Nariman, J.K., Literary History of Sanskrit Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
  15. Sasaki, Genjun H., Linguistic Approach to Buddhist Thought, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
  16. Sogen, Yamakami, Systems of Buddhistic Thought, New Delhi: Cosmo Publications, 2002.
  17. Takakusu, Junjiro., The Essentials  of Buddhist Philosophy, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998.
  18. 張曼濤,(ed.)俱舍論研究,臺北市:大乘文化出版社, 中華民國六十七年
  19. Winternitz, Maurice, A History of Indian Literature, (Vol. II), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1996.

 

 

 

 


[1] S. Chaudhury, Analytical Study of the Abhidharmakosa (Calcutta: Firma KLM Private Limited, 1983) p.7.

[2] K. K. S. Ch’en, Buddhism in China: A Historical Survey (New Jersey: Princeton University Press, 1964) p.301.

[3] L. Bapat, Abhidharmakośa A Study with a new Perspective (Varanasi: Bharatiya Vidya Prakashan, 1994) p.38.

[4] S. Anacker, Seven Works of Vasubandhu: The Buddhist Psychological Doctor (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 2005) p.10.

[5] H.Nakamura, Indian Buddhism: a Survey with Bibliographical Notes (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1999) p.109.

[6] K. Mizuno, “Abhidharma Literature” in G.P. Malalasekera (ed) Buddhist Encyclopaedia, Vol. I (Ceylon: The Government Press Ceylon, 1961), p.67.

[7] P. Groner, (tran.) A History of Indian Buddhism: From Skyamuni to Early Mahayana (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998), p.129.

[8] K. Mizuno, Op. Cit., p.64 ff.

[9] Ibid., p. 68.

[10] Đại 41.11.1

[11] Đại41.814.2

[12] Đại 27.702.1.

[13] H. Akira, Op. Cit., p.137.

 

BÌNH LUẬN








CÁC TIN LIÊN QUAN

1 2 3 4 5
TOP